Trong phần trước , chúng ta đã làm quen với các khái niệm từ Sites đến Search, Insights tới Content, Communities tới Composites, mình hy vọng là các bạn đã có một cái nhìn khá tổng quát về khả năng của SharePoint 2010. Thông qua những giá trị đó, SharePoint có thể được nhìn nhận ở 3 điểm mạnh mẽ nhất sau đây.
Khả năng kết nối và tăng thêm sức mạnh người dùng
Trước tiên, chúng ta vẫn thường nghe phản hồi từ phía khách hàng rằng đại đa số những ứng dụng cho doanh nghiệp thường bị một hạn chế là khó sử dụng. Với SharePoint 2010, Microsoft đã nghiên cứu khá kỹ kinh nghiệm sử dụng của người dùng trên toàn thế giới để rồi đưa ra giải pháp kết nối và trao quyền cao nhất cho người dùng. Ví dụ: người dùng văn phòng có thể truy cập SharePoint thông qua các trình duyệt khác nhau như Internet Explorer, FireFox và Safari, thêm vào đó họ còn có thể truy cập bằng điện thoại di động và tất nhiên là từ chính bộ Microsoft Office. Bằng cách đưa toàn bộ giao diện Ribbon vào SharePoint, Microsoft đã làm cho sản phẩm thêm thân thiện với người dùng, giúp họ dễ dàng tìm kiếm và sử dụng hết các tính năng của sản phẩm. Ngoài ra, Microsoft cũng đã đầu tư sâu vào sản phẩm mới mang tên là SharePoint Workspace, trước đây gọi là Groove, và sẽ được tích hợp luôn trong bộ Office 2010, cho phép làm việc “offline” với những thông tin được lưu trữ trên SharePoint bao gồm document libraries, lists và kể cả những workflow.
Cắt giảm chi phí nhờ dựa trên 1 nền tảng thống nhất
Song song với việc kết nối và gia tăng sức mạnh cho người dùng thì việc cắt giảm chi phí luôn là yếu tố quan tâm hàng đầu của tất cả các khách hàng. Với môi trường kinh tế hiện nay, các công ty càng lúc càng phải siết chặt ngân sách cho IT nhưng đồng thời vẫn đòi hỏi nhiều giá trị hơn từ những đầu tư hiện tại. SharePoint 2010 cung cấp thêm những cơ hội cho doanh nghiệp tiết kiệm chi phí trong khi vẫn cam kết họ sẽ có được những lợi ích từ những xu hướng công nghệ mới nhất.
Cụ thể, chỉ một lần đầu tư cho SharePoint 2010 bạn sẽ có trong tay một công cụ đa năng giải quyết nhiều vấn đề như quản lý nội dung, tìm kiếm thông tin, phân tích dữ liệu, làm việc cộng tác và nhiều hơn nữa, những tính năng này trước đây từng được xem là những giải pháp hoàn toàn độc lập riêng lẻ. Nhờ việc tích hợp tất cả những khả năng xử lý này trong một kiến trúc duy nhất mà SharePoint 2010 sẽ doanh nghiệp giúp giảm thiểu chi phí triển khai, bảo mật và đặc biệt là bạn cũng sẽ không phải tốn chi phí và thời gian cho việc học quá nhiều sản phẩm khác nhau, công nghệ khác nhau . Từ việc tạo ra những ứng dụng cho nội bộ cho đến các ứng dụng quy mô chạy trên extranet và cả internet.
Cuối cùng, một cơ hội lớn nữa cho việc tiết kiệm chi phí từ công nghệ điện toán đám mây. Với SharePoint 2010, bộ phận IT sẽ có thêm chọn lựa khi triển khai hạ tầng SharePoint, bạn có thể triển khai trên server đặt tại doanh nghiệp hoặc sử dụng dịch vụ SharePoint Online với toàn bộ dữ liệu được Microsoft lưu trữ tại các datacenter toàn cầu. Với giải pháp này, chúng ta thấy được khách hàng không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn đảm bảo rằng sẽ có một hệ thống tin cậy nhờ outsourcing phần lưu trữ và quản lý.
Đáp ứng nhanh chóng mọi nhu cầu công việc
Với SharePoint 2010, những nhà phát triển ứng dụng sẽ có thể tạo ra các chương trình quản lý nội dung và làm việc cộng tác chạy trong Firewall hoặc tương tác bên ngoài internet. Tất cả những khả năng của SharePoint đều có thể được mở rộng nhờ các hàm API hỗ trợ các chuẩn như REST, LINQ và web services. Microsoft cũng đã bổ sung thêm nhiều tính năng mới như Sliverlight web part và các Client Object Model mới. Nhưng điểm quan trọng nhất đó chính là các dịch vụ Business Connectivity Services, hay viết tất là BCS. BCS cho phép bạn truy cập an toàn đến dữ liệu, workflows và các thành phần khác trong hệ thống ứng dụng, tất cả các truy cập tới Web Services, SQL connections hoặc .NET. Điều này có nghĩa là bạn sẽ được tăng thêm sức mạnh trong việc tích hợp với nhiều ứng dụng khác nhau trong nhiều hệ thống khác nhau với những dạng thông tin có cấu trúc hoặc bán cấu trúc trong SharePoint. Hơn thế nữa, bạn có thể sử dụng BCS không chỉ trong các ứng dụng SharePoint và còn mở rộng ra cả các sản phẩm Microsoft Office 2010. Cuối cùng, Microsoft cũng đã đầu tư rất nghiêm túc cho việc hỗ trợ những nhà lập trình phát triển ứng dụng. Visual Studio 2010 có những công cụ mới để tạo và kiểm soát lỗi cho các các ứng dụng SharePoint, một giao diện đồ họa mới cho việc xây dựng web part và hỗ trợ tích hợp với Team foundation Server. Những người làm công việc lập trình cũng sẽ rất hưởng ứng chức năng Developer Dashboard mới mà họ có thể kích hoạt trên bất cứ trang SharePoint nào với mục đích debug hoặc chẩn đoán lỗi. Chắc chắn với sự ra đời của phiên bản 2010, SharePoint sẽ trở thành một nền tảng xuyên suốt toàn doanh nghiệp để tạo ra những ứng dụng quản lý nội dung và làm việc cộng tác.
Yêu cầu hệ thống khi cài đặt SharePoint 2010:
Những phần mềm cần thiết:
-
Windows Server 2008 SP 2 OR Windows Server 2008 R2
-
SQL Server 2005 or 2008 (64-bit)
-
Web Server (IIS) role
-
Application Server role
-
Microsoft .NET Framework version 3.5 SP1
-
SQL Server 2008 Express with SP1
-
Microsoft "Geneva" Framework
-
Microsoft Sync Framework Runtime v1.0 (x64)
-
Microsoft Filter Pack 2.0
-
Microsoft Chart Controls for the Microsoft .NET Framework 3.5
-
Windows PowerShell 2.0 CTP3
MOSS 2010 không nhất thiết phải chạy trên Windows Server 2008,điều thú vị của phiên bản này là hỗ trợ cả những hệ điều hành client như Windows 7,Vista nhưng phải là x64.Dưới đây là danh sách các hệ điều hành hỗ trợ cài đặt MOSS 2010:
-
Windows Server 2008 Service Pack 2 x64
-
Windows Server 2008 R2 x64
-
Hyper-V Windows Server 2008 Service Pack 2 x64 hoặc Windows Server 2008 R2 x64.
-
Windows 7 x64.
-
Windows Vista Service Pack 1,Service Pack 2 x64.
-
Hyper-V Windows 7 x64,Windows Vista Services Pack 1,2 x64 .
Kết luận
Cảm ơn bạn đã đọc những thông tin này và hy vọng bạn đã có một cái nhìn tổng thể về SharePoint 2010, nền tảng phát triển ứng dụng làm việc cộng tác trong doanh nghiệp và web. Tôi rất hứng khởi với những khả năng mới của SharePoint 2010 và hy vọng bạn cũng thế.
(Nguồn Tham Khảo www.microsoft.com/sharepoint)
KIM PHUONG TRAN sưu tầm
Microsoft Office SharePoint Server (MOSS) 2010 giờ đây đã đươc xem như là một sản phẩm nền tảng cho việc trao đổi thông tin và làm việc cộng tác trong nội bộ doanh nghiệp và trên web. SharePoint là giải pháp kết nối và hỗ trợ người dùng chia sẻ thông tin tốt nhất, cho dù những thông tin đó nằm trong mạng lưới intranet, extranet của doanh nghiệp hay có thể chia sẻ ra bên ngoài internet cho cả khách hàng và đối tác.
Với SharePoint 2010, chúng ta sẽ không chỉ giới hạn việc cung cấp khả năng làm việc cộng tác cho nhân viên văn phòng hoặc các nhóm kinh doanh mà còn có thể đầu tư sâu vào việc phát triển các ứng dụng mở rộng cho doanh nghiệp. SharePoint được xem là nền tảng để bạn có thể phát triển những ứng dụng rất nhanh chóng đáp ứng mọi nhu cầu trong hoạt động kinh doanh, có thể là một ứng dụng nhỏ cho một nhóm hay một phòng ban, hoặc có thể là những giải pháp doanh nghiệp tầm cỡ và phức tạp với nhiều quy trình xử lý thông tin phức tạp, chỉnh sửa code hoặc tích hợp với các phần mềm ứng dụng khác.
SharePoint 2010 có rất nhiều tính năng hấp dẫn nhằm cải thiện các hạn chế trong MOSS 2007, bài viết này sẽ giới thiệu với các bạn về 6 chức năng và dịch vụ chính mà SharePoint có thể cung cấp ngay cho bạn.

Hình 1: 6 tính năng chính trong MOSS 2010
SharePoint Sites: cung cấp cho bạn những công nghệ thiết yếu nhất để xây dựng các cổng thông tin ví dụ như web part framework, các mô hình security, khả năng cá nhân hóa từng trang, hỗ trợ đa ngôn ngữ, hỗ trợ truyền thông đa phương tiện và nhiều hơn nữa. Và khi chúng ta nhắc đến khái niệm SharePoint Sites thì phạm vi của chúng ta không phải chỉ bị giới hạn ở những team sites hoặc cổng thông tin nội bộ của doanh nghiệp mà bạn có thể mở rộng ra thành những Extranet cho phép kết nối thông tin giữa công ty với các đối tác hoặc nhà cung cấp, và tất nhiên là có thể triển khai luôn thành cổng Internet cho phép khách hàng truy cập công cộng với số lượng hàng triệu người cùng lúc.

SharePoint Communities cho phép mọi người làm việc với nhau đơn giản và hiệu quả hơn. Nó bao gồm những hình thức làm việc cộng tác truyền thống như tạo các workspace (không gian làm việc) để chia sẻ tài liệu, tạo quy trình xử thông tin, chia sẻ lịch làm việc và tác vụ chung cho cả nhóm. Ngoài ra, nó còn bao gồm cả luôn công nghệ Enterprise 2.0 mới nhất (hay còn gọi là Social Networking). SharePoint 2010 sẽ là một nền tảng tốt để phát triển mạng lưới social computing trong doanh nghiệp với sự hỗ trợ của blogs và wikis, RSS feeds, khả năng tìm kiếm nhân sự và chuyên gia, tạo quan hệ nhân viên và mạng cộng đồng. Thêm vào đó, SharePoint còn có thể tích hợp chặt chẽ với Office Communication Server nên chức năng SharePoint Communities còn có thể bổ sung thêm thông tin trạng thái (online, offline, free, busy..), chat và chia sẻ thông tin trực tuyến.

SharePoint Content quản lý thông tin doanh nghiệp toàn diện từ việc phân rã đến tổng hợp nội dung. SharePoint quản lý tất cả nội dung số bao gồm các văn bản dạng Office, các tài liệu dạng đa phương tiện, trang web, nội dung dạng HTML và cả các nội dung dạng mạng xã hội như blogs và wikis. Để đảm bảo việc tuân thủ những quy định về an toàn thông tin, SharePoint cũng hỗ trợ việc quản lý các chính sách và theo dõi việc chỉnh sửa nội dung (record management), quản lý và tùy biến được quy trình xử lý thông tin (workflow), hỗ trợ một hạ tầng mạnh mẽ,nhiều chức năng giúp doanh nghiệp kiểm soát được thông tin. Với một kiến trúc đồng nhất, bạn có thể dùng những tiện ích quản lý thông tin nhất quán cho việc phát hành thông tin lên intranet cũng như extranet và thậm chí internet site dành cho khách hàng.

Bây giờ vấn đề chính để quản lý hàng núi thông tin trong những tổ chức là khả năng tìm kiếm tốt nhất giúp người dùng có thể tìm và khám phá ra những thông tin mà họ cần dễ dàng. SharePoint Search có thể tạo ra những chỉ mục cho nội dung không chỉ trong những SharePoint sites mà thậm chí có thể cho cả những hệ thống thông tin liên quan, những tập tin được chia sẻ, cơ sở dữ liệu và các phần mềm ứng dụng được tích hợp với SharePoint. SharePoint cũng có thể tìm kiếm người hoặc chuyên gia trong tổ chức. Thêm vào đó, những chức năng mới vượt trội về tìm kiếm của Sharepoint được gọi là FAST search engine cho phép tìm kiếm thông minh theo kinh nghiệm của người dùng, và khả năng mở rộng quy mô tìm kiếm cho hàng tỉ tài liệu trong một tổ chức.

SharePoint Insights, chúng ta đã nói nhiều về khả năng tìm kiếm và làm việc cộng tác và sự kết hợp chúng với những công cụ phân tích dữ liệu thông minh truyền thống giúp cho người dùng văn phòng khả năng phân tích và đánh giá thông tin từ những dữ liệu bên trong doanh nghiệp. Nhờ dựa trên SQL Server, SharePoint có thể chia nhỏ những thông tin phân tán rời rạc thành những báo cáo dạng scorecard, dashboard rất sinh động. Những báo cáo này có thể pha trộn cả dữ liệu dạng có cấu trúc và phi cấu trúc để tạo ra một bức tranh thông tin một cách chân thực nhất cho tổ chức. Người dùng văn phòng có thể sàng lọc và phân tích những dữ liệu đó nhờ sự tích hợp chặt chẽ giữa SharePoint và Excel, SharePoint hiện là một trong những công cụ phân tích thông tin được sử dụng rộng rãi nhất trên toàn thế giới và cho phép bạn có thể nhanh chóng tạo ra những giải pháp phân tích tùy biến.

SharePoint Composites cung cấp cho mọi đối tượng từ người dùng thành thạo đến những nhà phát triển ứng dụng những công cụ dễ dùng và nhanh nhất để tạo ra những ứng dụng ghép. Ví dụ: bạn có thể dùng chương trình SharePoint Designer mới và không cần phải viết một dòng lệnh nào, bạn cũng có thể thay đổi được giao diện của một site, tích hợp thêm được các web parts, tùy chỉnh workflows và tích hợp dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau. Tương tự như thế, những dịch vụ Access Services mới cho phép người dùng tự xây dựng những ứng dụng và cơ sở dữ liệu quan hệ đơn giản sau đó có thể chia sẻ trong nội bộ một phòng hoặc cho cả công ty thông qua SharePoint site nhưng vẫn được quản lý và kiểm soát bởi bộ phận IT.

Kết luận: Microsoft Office SharePoint Server 2010 là sự lựa chọn phù hợp trong việc tích hợp các khả năng của các máy chủ, cho phép nâng cao tính hiệu quả trong công việc của các nhân tố/tổ chức thông qua việc cung cấp các công cụ quản lý nội dung dễ hiểu, gia tăng chia sẻ thông tin trong doanh nghiệp, thuận tiện cho việc chia sẻ thông tin ra bên ngoài tốt hơn. Đồng thời, MOSS còn cải thiện các hạn chế trong MOSS 2007.
Bài viết này cung cấp cho bạn một cái nhìn tổng thể về SharePoint 2010, nền tảng phát triển ứng dụng làm việc cộng tác trong doanh nghiệp và web.
(Nguồn Tham Khảo: www.microsoft.com/sharepoint)
KIM PHUONG TRAN sưu tầm
Windows 7 được coi là hệ điều hành an toàn nhất từ trước đến nay của Microsoft, nhưng nó chưa thực sự hoàn hảo. Hãy cùng chấm điểm những ưu và khuyết trong vấn đề bảo mật của Windows 7.
Trong bản tin Security Intelligence Report của Microsoft được công bố mới đây cho thấy đã có sự cải tiến vượt bậc về mức độ bảo mật từ Windows XP đến Windows 7. Tuy nhiên, không hệ điều hành nào là thực sự hoàn hảo. Cho dù Windows 7 được xem là “pháo đài vững chắc”, nhưng vẫn còn những yếu điểm để có thể bị đánh bại. Hãy cùng 2 chuyên gia bảo mật hàng đầu, Reguly và Wisniewski điểm qua những điểm mạnh và điểm yếu của “pháo đài” này.
Những cải tiến mới mẽ
Microsoft đã có những cải tiến quan trọng để bảo vệ nhân hệ thống của Windows và tăng cường thêm một vài tính năng bảo mật mới trong quá trình chuyển đổi và phát triển từ Windows XP đến Windows Vista. Với Windows 7, một vài tính năng bảo mật đó được tăng cường thêm và Microsoft cũng không quên bổ sung thêm các tính năng mới.
Dưới đây là một vài tính năng bảo mật đáng lưu ý của Windows 7:
1. ASLR (Address Space Layout Randomization) và DEP (Data Execution Prevention) là 2 tính năng đã từng có trong Windows Vista, nhưng đã được cải tiến đáng kể trên Windows 7.
ASLR là cơ chế bảo mật, sẽ gán các dữ liệu lên bộ nhớ một cách ngẫu nhiên nhằm tăng độ khó cho các kẻ tấn công có ý định lợi dụng những sơ hở của hệ thống.
Còn DEP là tính năng đã được từng được trang bị ở Windows XP, có tác dụng ngăn chặn tấn công thông qua lỗi tràn bộ nhớ đệm của hệ thống. Ngoài ra DEP còn có tác dụng ngăn chặn các đoạn mã độc tấn công và các tiến trình đang chạy trên hệ thống. Bạn đọc có thể xem thêm cách thức kích hoạt tính năng DEP trên Windows XP và Vista đã được Dân Trí giới thiệu tại đây.
Chester Wisniewski, cố vấn cao cấp của hãng bảo mật danh tiếng Sophos cho hay: “ASLR đã thực sự được cải tiến trong Windows 7, theo đó, các file thư viện (DLL) sẽ được load ngẫu nhiên vào trong địa chỉ bộ nhớ mỗi khi bạn khởi động hệ thống. Malware thường dựa vào các file cố định trên bộ nhớ để lợi dụng, và kỹ thuật này đã lợi dụng nhược điểm đó của các phần mềm mã độc.”
Wisniewski còn lưu ý thêm rằng DEP giờ đây đã bảo vệ tốt trình duyệt web Internet Explorer và các dịch vụ “xương sống” của hệ thống mà trước đây chưa được bảo vệ trong Windows Vista.
2. BitLocker: là tính năng mã hóa ổ đĩa lần đầu được Microsoft đưa ra trong Windows Vista. Ban đầu, tính năng này chỉ có thể mã hóa các phân vùng cài đặt Windows, và sau đó đã được mở rộng trong bản nâng cấp SP1, để mã hóa các phân vùng khác của ổ cứng, nhưng vẫn chưa thể mã hóa các ổ cứng gắn ngoài hoặc USB.

Tyler Reguly, kỹ sư trưởng của phòng nghiên cứu bảo mật nCirle cho hay, với Windows 7, Microsoft đã tích hợp thêm khả năng mã hóa dữ liệu trên USB, và tính năng này thực sự hiệu quả, bảo vệ hàng chục GB dữ liệu trên các thiết bị nhớ di động.
Bạn đọc có thể xem thêm cách thức sử dụng BitLocker trên Windows 7 đã được Dân trí giới thiệu tại đây.
3. Internet Explorer 8 (IE 8): đây là trình duyệt không thực sự dành riêng cho Windows 7 vì người dùng có thể download và sử dụng trên các phiên bản Windows cũ hơn. Nhưng cả Reguly và Wisniewki đều nhất trí rằng, IE8 thực sự là một bước đi đúng hướng của Microsoft.
Tyler Reguly bình luận: “Sự ra mắt của IE8 cho thấy rằng Microsoft đã thực sự quan tâm đến vấn đề bảo mật trên trình duyệt.”

Wisniewski cho biết thêm: “IE8 đã tích hợp thêm tính năng bảo vệ mới mang tên SmartScreen, tương tự với tính năng bảo mật của Google Chrome hay Firefox. Đây là tính năng lọc trang web, cho phép chặn các trang web chứa mã độc để bảo vệ cho người dùng”.
Nếu chưa sử dụng Windows 7, người dùng vẫn có thể download IE8 miễn phí tại đây (nếu gặp khó khăn trong việc download từ link trên, bạn có thể download tại đây)
Những “lỗ hổng” chưa được “lấp”
Như trên đã nói, mặc dù Microsoft rất nỗ lực trong việc nâng cao bảo mật, nhưng không hệ điều hành nào là thực sự hoàn hảo, và Windows 7 cũng như vậy. Dưới đây là một vài nhược điểm mà có lẽ, Microsoft phải lưu ý hơn trong các phiển bản Windows tiếp theo.
1. Windows Firewall: Windows đã mất một khoản thời gian không ngắn để tiến hành sáp nhập tường lửa với hệ điều hành, kết quả là sự ra đời của Windows Firewall. Tuy nhiên, rất tiếc, tường lửa mặc định của Windows chưa bao giờ được đánh giá cao, do không cung cấp những tính năng mạnh mẽ để lọc dữ liệu chuyển qua kết nối Internet, ngăn chặn các cuộc tấn công từ bên ngoài…
Windows Firewall - nhẹ nhàng nhưng không thực sự hiệu quả
Tyler Reguly nói: “Về lựa chọn cá nhân, tôi sẽ không sử dụng một phần mềm của hãng thứ 3. Tôi nhận thấy chúng sử dụng quá nhiều tài nguyên và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu suất hệ thống. Sẽ thật tuyệt vời nếu Windows Firewall trở nên mạnh mẽ hơn. Tôi xin lưu ý rằng, có sự tương quan giữa “mạnh mẽ hơn” và “tốn nhiều tài nguyên hệ thống”. Có lẽ, nguyên do khiến các phần mềm tường lửa của hãng thứ 3 trở nên “ngốn” nhiều tài nguyên hệ thống bởi lẽ chúng mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Đây là điều mà Microsoft cần phải quan tâm để cân bằng giữa hiệu năng sử dụng và bảo mật của Windows Firewall”.
2. Ẩn dấu định dạng file: Mặc định, Microsoft vẫn tiếp tục dấu đi các định dạng file quen thuộc đã được biết đến, nghĩa là nếu 1 file có tên đầy đủ “dantri.jpg” thì Windows sẽ chỉ hiển thị “dantri”.
Tuy nhiên, Chester Wisniewski lại cho rằng, việc ẩn đi định dạng file lại là một nhược điểm có thể khiến phần mềm gián điệp lợi dụng để qua mắt người dùng. Wisniewski nói: “Điều này có thể giúp Trojan từ email sẽ dễ dàng sử dụng mánh khóa đơn giản để qua mắt người dùng, bằng cách thêm vào 1 định dạng giả cho file. Chẳng hạn file “virus.jpg.exe” chứa mã độc, sẽ chỉ được Windows hiển thị dưới dạng “virus.jpg” và người dùng sẽ nhầm tưởng đó là 1 file ảnh định dạng jpg vô hại và vô tình kích hoạt nó”.
3. Chế độ giả lập XP: Đây là chế độ giả lập, cho phép sử dụng các thiết bị phần cứng hoặc phần mềm chưa tương thích hoặc không hoạt động được trên Windows 7. Các thiết bị và phần mềm sẽ hoạt động bình thường và ổn định trong môi trường Windows XP giả lập.
Vấn đề có thể gặp ở đây là mặc dù hoàn toàn là môi trường của Windows XP, nhưng chế độ giả lập này không được bất kỳ sự bảo vệ nào từ Windows 7.
Chế độ Windows XP - Máy tính ảo không có sự che chắn trên Windows 7
Wisniewski giải thích: “Chế độ Windows XP mở đầu 1 lớp mới phức tạp cho vấn đề bảo mật trên Windows. Mặc định, Windows 7 tự động thiết lập phân vùng từ máy ảo Windows XP, đây sẽ là “miếng mồi ngon” cho malware nếu như nó không được hoàn toàn bảo vệ.”
4. User Account Control (UAC): Từng bị xem là tính năng “thừa” khi được đưa vào Windows Vista. Mục đích là để người dùng dễ dàng quản lí và không bị virus tự động kích hoạt hay qua mặt, nhưng với phần lớn người dùng, UAC bị xem là sự phiền nhiễu, và không mấy ai giữ nguyên tính năng này để sử dụng.
UAC - Không mang lại hiệu quả như mong muốn
Microsoft đã có sự cải tiến đáng kể của UAC trên Windows 7, khi đã bớt “làm phiền” người dùng hơn so với trước đây, tuy nhiên, nó lại không thực sự hiệu quả trong việc ngăn chặn sự xâm nhập của các phần mềm độc hại. Cả Tyler Reguly và Chester Wisniewski đều thống nhất rằng UAC không thực sự là một tính năng bảo mật nhưng cũng cho rằng Microsoft cần phải tiếp tục phát triển UAC để nó trở nên hoàn thiện hơn.
Trên đây là những nhận định của 2 chuyên gia hàng đầu về bảo mật với những cải tiến của Windows 7. Còn bạn, nếu bạn chỉ là người dùng phổ thông, thì nhận định của riêng bạn dành cho tính năng an toàn của Windows 7 là như thế nào? Hãy tự rút ra những kết luận cho riêng mình sau khi sử dụng hệ điều hành rât được Microsoft kỳ vọng này.
(Phuong Kim Tran sưu tầm)
Windows 7 có thể được coi là bước đầu hoàn thiện những tính năng bảo mật cao cấp của dòng hệ điều hành Windows, sau những tính năng cơ bản của XP, những thử nghiệm mới của Vista. Bài viết này liệt kê, giới thiệu những gì mà Microsoft kì vọng sẽ làm mọi người thay đổi cái nhìn về an toàn trên Windows.
Qua bài viết người đọc cũng sẽ làm quen với một số thuật ngữ mới trong hệ thống phân phối Windows vì không phải tất cả những phiên bản Windows 7 đều có các đặc tính bảo mật như nhau. Có thể những bạn đọc thường xuyên của blog này hoặc quen thuộc với các hệ điều hành nguồn mở sẽ thấy ngạc nhiên vì nhiều điểm tương đồng giữa các công nghệ mới của Microsoft được giới thiệu ở đây với những gì đã có ở Ubuntu/RedHat/Asianux từ rất lâu. Có thể sẽ có vài bài viết phân tích về những điểm tương đồng này trong tương lai.
1. AppLocker
AppLocker là giải pháp mới của Microsoft để điều khiển các ứng dụng có thể quản lý được (còn gọi là quản lý theo dạng whitelisting). AppLocker được tích hợp trực tiếp vào nhân của Windows 7, được xem như là một thay thế vượt trội hơn cho cơ chế chính sách giới hạn phần mềm dựa trên GPO (Group Policy Objects) còn gọi là SRPs (Software Restriction Policies). AppLocker bổ sung thêm nhiều policy quản lý phần mềm linh hoạt hơn.
Các tính năng điều khiển ứng dụng của AppLocker chỉ được tích hợp trong các stock-keeping unit (SKU) [1] Windows 7 Enterprise. Phiên bản Enterprise chỉ giới hạn cho những người dùng đăng kí Enterprise Agreement/Software Assurance (EA/SA). Tuy nhiên, cơ chế SRPs cung cấp khả năng quản lý ứng dụng cũ hơn phổ biến trên Windows XP và Vista thì có sẵn trong tất cả các phiên bản enterprise, business và Ultimate của Windows 7, Vista, XP (Các phiên bản Home mặc định không cho chỉnh sửa GPO). Hiện tại AppLocker không thay thế hoàn toàn cho SRPs, mà người dùng có thể sử dụng cả hai trên cùng một máy.
2. User Account Control
User Account Control (UAC) không phải là một kỹ thuật hay ứng dụng riêng rẽ mà là một tập hợp của những công nghệ nhằm phục vụ cho hai chức năng chính – thứ nhất và quan trọng nhất là tăng cường khả năng tương thích cho user khi chạy ứng dụng với tư cách standard user, và thứ hai là tăng cường khả năng bảo vệ cho hệ thống khi user chạy ứng dụng với tư cách administrator.
Tất cả các phiên bản Windows 7 đều có tích hợp UAC.
3. BitLocker
BitLocker được Microsoft đưa ra để đáp ứng nhu cầu full disk encryption (FDE) nhằm bảo vệ các file hệ thống và dữ liệu người dùng. Thông qua việc mật mã hóa nội dung của phân vùng ổ đĩa, nội dung sẽ được bảo vệ khỏi những truy cập trái phép. BitLocker được giới thiệu lần đầu trong Windows Vista và được cải tiến khá nhiều trong Win 7.
BitLocker chỉ có với các Enterprise SKU của Windows 7, giới hạn cho người dùng đăng kí EA/SA. Các policy cho BitLocker được quản lý qua GPO.
4. BitLocker To Go
Được phát triển trong cùng nhóm sản phẩm với BitLocker, và chia sẻ nhiều mã nguồn giống nhau, BitLocker To Go là giải pháp của Microsoft cho nhu cầu mật mã hóa những thiết bị lưu trữ di động. BitLocker To Go ra đời nhằm khắc phục những hạn chế quan trọng của phiên bản BitLocker trên Windows Vista.
BitLocker To Go chỉ có trên Enterprise SKU của Windows 7. Những policy của nó cũng được điều khiển thông qua GPO.
5. Internet Explorer 8 Security
IE 8 tiếp tục cuộc cách mạng trình duyệt của Microsoft với điểm nhấn về hỗ trợ những tiêu chuẩn Internet. IE8 được xây dựng trên những nền tảng bảo mật đã triển khai trong IE7.
Tất cả các phiên bản của Windows 7 đều có sẵn IE8. IE8 cũng có sẵn cho Vista, XP SP2.
6. DirectAccess
DirectAccess (DA) là giải pháp VPN cho phép người dùng từ xa có thể truy cập những tài nguyên mạng nội bộ một cách trong suốt. Có khái niệm tương đồng với giải pháp Server and Domain Isolation (SDI – được triển khai dưới nhiều dạng khác nhau từ Windows Server 2000, cho phép những kết nối được xác thực từ máy chủ đến máy chủ vào trong mạng nội bộ của một tổ chức), DA mở rộng khái niệm này để tạo ra những kết nối tin cậy đến người dùng ở những mạng từ xa (như mạng công cộng hay ở nhà hoặc mạng của tổ chức khác). DA tận dụng khả năng của IPSec và IPv6 có sẵn trong Windows 7 để thiết lập các phiên làm việc an toàn (có thể tùy chọn các cơ chế ESP, AH và mã hóa payload trong IPSec) để bảo vệ kênh truy cập vào tài nguyên của tổ chức từ những mạng không quản lý được.
DA chỉ có sẵn trong Enterprise SKU của Windows 7 và phiên bản Ultimate. Các policy cho DA được quản lý qua GPO. Ngoài ra để triển khai DA cần có 1 DA server ở vùng biên của mạng nội bộ, chạy Windows Server 2008 R2 hay mới hơn, đã join vào AD domain.
7. Windows Services Hardening
Được giới thiệu lần đầu ở Windows Vista, Windows Services Hardening (WSH) cho phép triển khai cơ chế Access Control Lists (ACLs) trên những services của Windows. Về cơ bản, các nhà phát triển có thể liệt kê những hành động cụ thể nào của các dịch vụ trên Windows được tương tác với những đối tượng cụ thể nào của mức hệ điều hành trên Widnows (cơ chế Whitelisting). Đây là một công nghệ bảo mật rất mạnh, bảo vệ hệ thống khỏi những xâm nhập nhắm vào các lỗ hổng có thể được nhúng vào trong những dịch vụ của hệ điều hành.
Tất cả các SKU của Windows 7 đều có WSH. WSH không được quản lý qua GPO mà thay vào đó là qua registry và các thiết lập cấu hình của từng máy. Cơ chế này được bật mặc định cho các dịch vụ của Windows.
8. Windows Firewall
Windows Firewall là tường lửa cá nhân hai chiều của Microsoft được tích hợp cho Windows 7. Cũng giống như nhiều công nghệ bảo mật khác trong Windows 7, firewall 2 chiều đã được giới thiệu lần đầu với Windows Vista, cùng với nền tảng thú vị Windows filtering. Về mặt chức năng, Windows Firewall giữ nguyên với Windows 7. Tuy nhiên về mặt cấu trúc, đã có một số thay đổi trong nền tảng Windows filter để xây dựng firewall. Nền tảng đó đã được thiết kế lại để trở nên theo module (modular) nhiều hơn.
Tất cả các phiên bản Windows 7 đều có Windows Firewall. Các policy của nó được điều khiển qua GPO.
9. ASLR, DEP and Safe Unlinking
Address Space Layout Randomization (ASLR) về cơ bản là kỹ thuật làm ngẫu nhiên hóa các bảng lời gọi hệ thống (system call) cho mỗi hệ thống Windows Vista lúc khởi động, tạo một nhân tố phát sinh đa dạng, khác nhau trên các hệ thống giống nhau. Bằng cách này, một đoạn mã tấn công vào một offset bộ nhớ nhất định sẽ có thể có hiệu quả trên một máy nhưng thất bại trên một máy khác giống y hệt. Như vậy đòi hỏi những tay viết mã độc phải dùng cách tấn công brute force hoặc không nhắm đến offset bộ nhớ nữa, cả hai cách sẽ gây khó khăn cho các hacker.
Data Execution Prevention (DEP) sử dụng sự hỗ trợ của phần cứng từ các bộ vi xử lí Intel và AMD để loại bỏ các cuộc tấn công chèn mã vào vùng nhớ (memory injection). DEP dùng phần cứng để áp dụng một luật “Không thực thi mã từ những vùng trong bộ nhớ đã được đánh dấu là dành cho dữ liệu”. Luật này ngăn chặn một tỉ lệ lớn các cuộc tấn công chèn mã vào vùng nhớ (chẳng hạn tấn công tràn bộ đệm).
Microsoft cũng thêm vào kỹ thuật Safe Unlinking ở Windows 7, có chức năng bảo vệ tương tự như DEP nhưng ở mức nhân hệ điều hành. Safe Unlinking là một đoạn mã ở mức kernel hỗ trợ cho việc cấp phát và thu hồi các vùng nhớ được thực hiện bởi Windows 7 kernel. Safe Unlinking thực hiện một loạt các kiểm tra trước khi bộ nhớ được thu hồi để đảm bảo là hacker không cố gắng xâm nhập vào hệ điều hành bằng cách được gọi là pool overrun (tương tự như buffer overflow, nhưng ở mức kernel).
Tất cả các phiên bản của Windows 7 đều có sẵn ASLR, DEP và Safe Unlinking.
10. USB Device Control
Hỗ trợ cơ chế điều khiển các thiết bị kết nối qua cổng USB dựa trên policy, bao gồm ngăn truy cập, cho phép truy cập đọc và ghi.
Cơ chế điều khiển thiết bị USB được tích hợp trong tất cả các phiên bản của Windows 7, được quản lý thông qua GPO.
11. Kernel Patch Protection & Signed Device Drivers với Win 7 64-bit
Kernel Patch Protection (KPP) [2] trước đây được gọi là PatchGuard là một đoạn mã ở mức kernel dùng để bảo vệ kernel Windows không bị kẻ tấn công đánh chặn, thay đổi mã nguồn (hay còn gọi là “hook”). KPP giám sát xem những tài nguyên trọng yếu được kernel sử dụng hay chính mã nguồn của kernel có bị thay đổi không. Nếu phát hiện ra một thay đổi trái phép vào những cấu trúc dữ liệu hoặc mã nguồn nhất định, hệ điều hành sẽ phát lệnh tắt toàn bộ hệ thống. Cơ chế này giúp ngăn chặn một số phần mềm xấu như key logger, nhưng đồng thời cũng có thể gây cản trở với những phần mềm bảo mật hợp lệ can thiệp vào kernel để giám sát các hoạt động ở mức kernel của Windows.
Vì những driver thiết bị được tải vào kernel mode có toàn quyền truy cập hệ thống nên Microsoft giới hạn lại khả năng cho phép user tải những driver thiết bị không rõ ràng vào hệ điều hành. Các driver giờ đây bắt buộc phải được digitally sign.
Tất cả các phiên bản 64 bit của Windows 7 đều được tích hợp KPP và yêu cầu device driver được chứng nhận (cũng như với Windows Vista 64 bit, Windows Server 2003 64 bit R2 và mới hơn). Các phiên bản 32 bit của Windows 7 không có chức năng này.
12. Network Access Protection
Network Access Protection (NAP) là giải pháp điều khiển truy cập vào tài nguyên mạng dựa trên một nhận dạng của máy client tuân theo chính sách an toàn của tổ chức.NAP cho phép quản trị mạng xác lập các mức truy cập vào mạng dựa trên client là ai, thuộc nhóm nào, và mức độ tuân thủ của client với chính sách của tổ chức. Nếu một client không thỏa mãn chính sách, NAP cung cấp cơ chế tự động thiết lập lại cho client đáp ứng đủ yêu cầu và sau đó tăng mức độ truy cập vào mạng cho client một cách tự động.
Nền tảng này được giới thiệu đầu tiên trong Windows Vista (sau đó là XP SP3) và về cơ bản không thay đổi gì trong Windows 7.
Tất cả các phiên bản business và enterprise của Windows 7 (Home và Starter không nằm trong diện này) đều có tích hợp NAP client.
13. Windows Defender
Windows Defender là công cụ chống phần mềm gián điệp (Anti-Spyware) đầu tiên được tích hợp trong Windows Vista và giữ nguyên với Windows 7.
Có sẵn trong tất cả các phiên bản của Windows 7.
14. Domain Name Systems Security Extensions Support
Domain Name Systems Security Extensions Support (DNSSEC) được định nghĩa đầu tiên vào năm 1999, bổ sung các chữ kí điện tử dựa trên cơ chế mật mã hóa vào các kết quả truy vấn DNS, giúp loại trừ khả năng một kẻ tấn công chèn vào các kết quả giả mạo. Tuy nhiên DNSSEC không ngăn chặn được tất cả các lỗ hổng liên quan đến DNS (chẳng hạn tấn công phishing hay lạm dụng sự cho phép trong nội bộ (authorized insider abuse)), và nó đòi hỏi toàn bộ nền tảng DNS phải được nâng cấp và có khả năng tạo cũng như xác nhận chữ ký điện tử. Riêng Windows 7, chương trình DNS client được tích hợp có thể bảo vệ giao tiếp ở mức cuối (last-hop communication) giữa client và DNS server, và nó cũng có khả năng kiểm tra server có công nhận một vùng (zone) được ký điện tử hay không.
Chức năng DNSSEC được hỗ trợ lần đầu trên Windows 7 và có sẵn cho tất cả các phiên bản, gồm cả Home và Starter. Đối với phiên bản Enterprise, DNSSEC được điều khiển thông qua GPO.
15. Windows Audit
Windows Audit subsystem được giới thiệu với Windows Vista và được cải tiến trong Windows 7. Nó cung cấp cơ chế sàng lọc chi tiết các record của tất cả các sự kiện trong Windows 7 trong một audit log.
Có sẵn trong tất cả các SKU Windows 7 và Windows Server 2008. Audit policy của Windows là một phần của Security Policy trong GPO và được quản lý thông qua GPO.
16. Rights Management Services Client
Microsoft tích hợp một chương trình Rights Management Services (RMS) client vào Windows 7. RMS là công nghệ quản lý giấy phép số của Microsoft(Digital Rights Management – DRM) ra đời năm 2002. RMS client được giới thiệu đầu tiên trong Vista và giữ nguyên với Windows 7.
Tất cả các phiên bản business và enterprise của Windows 7 đều được tích hợp.
17. Kết luận
Nhìn chung, Microsoft không ngừng đẩy mạnh các tính năng về bảo mật cho hệ điều hành chiến lược của mình. Tuy nhiên nhiều tính năng chỉ có cho người dùng Enterprise (có đăng kí EA/SA) nên không phải mọi người sử dụng Windows 7 đều tiếp cận được với các công nghệ này. Trong bài viết tới ta sẽ đi sâu hơn 1 chút, phân tích một số ưu, khuyết điểm chính của những công nghệ này, để xem thật sự Microsoft bảo vệ người sử dụng được đến mức nào.
(Trần Kim Phượng sưu tầm)
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
I. Giới thiệu
Một trong những tính năng của ForeFront
TMG là hỗ trợ cho một số client sử dụng để kết nối với TMG ForeFront firewall.
Một trong những client là Microsoft Forefront TMG mà còn được biết đến như là
một Winsock client cho hệ điều hành Windows. Sử dụng Client TMG có nhiều cải
tiến hơn so với các client khác (web proxy, secure NAT). Forefront TMG client
có thể được cài đặt trên máy client Windows và một số hệ điều hành máy chủ (nó
không được khuyến khích ngoại trừ Server Terminal), được bảo vệ bởi Forefront
2010. Forefront TMG client cung cấp các thông báo kiểm tra https (được sử dụng
với TMG 2010), tự động phát hiện, tăng cường bảo mật, hỗ trợ ứng dụng và kiểm
soát truy cập cho máy client. Khi một máy client chạy Forefront TMG client cho
một firewall yêu cầu, yêu cầu được chuyển tiếp tới một máy TMG Forefront 2010
để chuyển tiếp. Không có cơ sở hạ tầng định tuyến cụ thể là cần thiết vì trong
quá trình Winsock. Forefront TMG client sẽ gửi thông tin người dùng mới mỗi yêu
cầu, cho phép bạn tạo ra một chính sách tường lửa trên một máy TMG Forefront
2010 với quy định rằng việc sử dụng các chuyển tiếp chứng thực của client,
nhưng chỉ dựa trên giao thức quy định TCP và UDP. Đối với tất cả các giao thức
khác bạn phải sử dụng một kết nối client Secure NAT.
Ngoài các tính năng tiêu chuẩn của các
firewall client trước, TMG client còn hỗ trợ:
- Kiểm tra thông báo HTTPS/
- Hỗ trợ AD Marker.
II. Tính năng tiêu chuẩn của TMG client
- Người dùng hoặc nhóm dựa trên các chính
sách firewall cho web và không dựa trên giao thức TCP và UDP của web proxy.
- Hỗ trợ các giao thức phức tạp mà không
yêu cầu sử dụng một bộ lọc ứng dụng TMG.
- Đơn giản hoá việc cấu hình định tuyến
cho các tổ chức lớn.
- Tự khám phá thông tin TMG dựa trên các
DNS và cài đặt DHCP server.
III. Yêu cầu về hệ thống
TMG client có một vài yêu cầu về hệ thống
sau:
Hệ điều hành hỗ trợ:
- Windows 7.
- Windows server 2003
- Windows server 2008
- Windows vista.
- Windows XP.
Hỗ trợ các phiên bản ISA server và
Forefront TMG:
- ISA Server 2004 Standard Edition
- ISA Server 2004 Enterprise Edition
- ISA Server 2006 Standard Edition
- ISA Server 2006 Enterprise Edition
- Forefront TMG MBE (Medium Business Edition)
- Forefront TMG 2010 Standard Edition
- Forefront TMG 2010 Enterprise Edition
Hệ điều hành hỗ trợ.

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Bảng 1: Nguồn:
http://technet.microsoft.com/en-us/library/dd897009.aspx
Client / Server tương thích

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Bảng 2: nguồn
http://technet.microsoft.com/en-us/library/dd897009.aspx
IV. Thiết lập TMG client trên TMG server
Chỉ có một vài cài đặt trên máy chủ
Forefront TMG có trách nhiệm cấu hình của client TMG. Trước hết có thể kích
hoạt client TMG hỗ trợ để định nghĩa mạng nội bộ trên máy chủ TMG khi bạn có
thể nhìn thấy trong ảnh chụp màn hình sau đây.

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Hình 1: Thiết lập TMG client trên TMG
server.
Sau khi bật hỗ trợ TMG client (mặc định
sau khi cài đặt là bình thường), nó cũng có thể tự động hoá cấu hình trình
duyệt web của client. Trong suốt khoảng thời gian cập nhật của TMG client hoặc
trong quá trình service start, trình duyệt được cài đặt cấu hình trong việc
quản lý giao diện điều khiển.
Trong cài đặt ứng dụng cho TMG client
trong giao diện điều khiển TMG có thể bật hoặc tắt một số ứng dụng phụ thuộc
cài đặt.

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Hình 2: Thiết lập TMG client.
AD Marker
Microsoft Forefront TMG cung cấp một
chứng năng mới, tự động phát hiện máy chủ TMG cho TMG client. Không giống như
các phiên bản Firewall client trước đó, các Forefront TMG client có thể sử dụng
một điểm đánh dấu trong Active Directory để tìm server TMG tương ứng. TMG
client sử dụng LDAP để tìm các thông tin cần thiết trong Active Directory.
Lưu ý:
Nếu TMG client không thấy các điểm đánh
dấu AD nó sẽ không bị lỗi đến những khái niệm tự động phát hiện cổ điển thông
qua DHCP và DNS, vì lý do bảo mật. Điều này được thực hiển để giảm nguy cơ của
một kẻ tấn công đang cố gắng để buộc một lỗi với phương pháp an toàn hơn. Nếu
một kết nối để Active Directory có thể được thành lập nhưng một Marker AD không
thể tìm được.
TMGADconfig Tool
Để tạo một cấu hình AD Marker trong
Active Directory, bạn có thể tải cấu hình TMG AD cụ thể từ Microsoft Download
Center (tìm AdconfigPack.exe). Sau khi tải công cụ này về và cài đặt trên TMG,
bạn có thể thực thi dòng lệnh sau để đăng ký phím đánh dấu AD:
Tmgadconfig add -default -type winsock
-url http://nameoftmgserver.domain.tld:8080/wspad.dat
Cũng có thể loại bỏ các điểm đánh dấu AD
với công cụ tmgadconfig nếu bạn không muốn sử dụng Marker AD nữa.
Cài đặt TMG client

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Hình 3: Cài đặt TMG client.
Có thể xác định vị trí của máy chủ TMG
bằng thủ công, hoặc tự động trong quá trình cài đặt TMG client. Sau khi cài
đặt, có thể cấu hình lại các thiết lập của các cơ chế phát hiện TMG client bằng
công cụ của TMG client mà bạn sẽ tìm thấy trong taskpane của client.

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Hình 4: TMG client computer selection.
Tự động phát hiện nâng cao
Nếu bạn muốn thay đổi quá trình phát hiện
tự động, TMG client bây giờ có một tuỳ chọn mới để xác định phương pháp sử dụng
để tự động phát hiện TMG server.

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Hình 5: Tự động phát hiện nâng cao.
Kiểm tra thông báo HTTPS
Microsoft Forefront TMG có một chức năng
mới kiểm tra outgoing HTTPS kết nối traffic cho client. Để người dung biết về
quá trình nhạy cảm này, TMG client mới có thể được sử dụng để thông báo cho
người dùng kết nối HTTPS là nhận được gửi kiểm tra gửi đi, nếu bạn muốn làm
điều này. Quản trị viên TMG cũng có tuỳ chọn để tắt quá trình này từ thông báo Center
trên máy chủ TMG hoặc trên mỗi TMG client.

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Hình 6: Bảo mật kết nói thông báo.
Nếu HTTPS được kích hoạt và thiết lập để
thông báo cho người dung nếu kiểm tra HTTPS được sử dụng cũng được kích hoạt,
người dùng có một TMG client cài đặt sẽ nhận được một thông báo như hình sau:

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Hình 7: Thông báo Secure Connection.
Kết luận
Trong bài này, tôi đã cung cấp cho bạn
tổng quan về quá trình cài đặt và cấu hình của Microsoft Forefront TMG client. đồng thời nói thêm về một số tính năng mới của Forefront TMG client. Theo tôi,
bạn nên sử dụng TMG client bất cứ nơi nào có thể trong môi trường mạng, nhằm tăng cường tính bảo mật cho hệ thống.
(Trần Kim Phượng sưu tầm)
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
I. Giới thiệu:
An toàn hệ thống luôn là vấn đề được quan tâm hành đầu
của mọi công ty. Vào tháng 5/2007 Microsoft giới thiệu sản phẩm Microsoft
forefront
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
dòng sản phẩm bảo mật toàn diện, để giải quyết
các vấn đề về Virus và Spyware và mang lại tình trạng an ninh tốt hơn cho hệ
thống mạng của bạn.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Các sản phẩm của
Microsoft Forefront có thể dễ dàng tích hợp với các sản phẩm khác, với hạ tầng
CNTT của doanh nghiệp và có thể được bổ sung thông qua các giải pháp của bên thứ
ba cũng như các giải pháp bảo mật xuyên suốt và có chiều sâu. Các quá trình quản
lý, báo cáo, phân tích và triển khai đã được đơn giản hóa giúp doanh nghiệp quản
lý nguồn thông tin một cách hiệu quả hơn cũng như kiểm soát tốt hơn việc truy cập
vào máy chủ và các ứng dụng. Với chế độ bảo vệ nhanh nhạy do Microsoft hỗ trợ,
Microsoft Forefront sẽ giúp các doanh nghiệp tự tin đối đầu với những mối nguy
hiểm luôn luôn biến đổi và những nhu cầu ngày một tăng trong kinh doanh.
II. Lợi Ích:
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
- Toàn diện: Microsoft Forefront mang đến một dòng sản
phẩm bảo mật toàn diện, được tích hợp giúp bảo vệ hệ thống máy chủ, máy trạm và
edge chống lại các hiểm họa luôn luôn biến đổi.

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Forefront giúp bảo vệ các hệ điều hành máy chủ
và máy trạm Microsoft. Tính năng chống malware nhanh nhạy của Microsoft ForeFront Client
Security đã chống lại các nguy cơ về virut, spyware và các nguy cơ khác một
cách hiệu quả. Sản phẩm Bảo mật Máy khách Microsoft cũng có tác dụng kịp thời
trong việc ngăn chặn các mối nguy hiểm mới
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Forefront giúp các doanh nghiệp bảo vệ các máy
chủ ứng dụng dựa trên nền tảng Microsoft thông qua một chiến lược rất triệt để.
Các Microsoft Forefront Security for Exchange Server và SharePoint giúp các
doanh nghiệp bảo vệ các môi trường Microsoft Exchange Server 2007, Microsoft
Office SharePoint Server 2007 và Microsoft Windows SharePoint Services 3.0
chống lại virus, spam và những nội dung không phù hợp. Những sản phẩm này được
tích hợp nhiều chương trình quét virus của các hãng hàng đầu hoạt động trong
lĩnh vực bảo mật, mang đến một giải pháp bảo mật toàn diện. Những sản phẩm này có
thể được bảo quản lý một cách tập trung sử dụng MS ISA Server.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Forefront mang đến các tính năng quản lý thông
tin cá nhân, công nghệ mã hóa, VPN, tường lửa có thể giúp các doanh nghiệp đảm
bảo rằng chỉ những người sử dụng hợp pháp mới truy cập được vào các tài nguyên
và dữ liệu CNTT cần tìm. ISA Server 2006 có khả năng kiểm soát việc truy
cập rất tốt còn IAG 2007 giúp truy cập một cách an toàn vào các ứng dụng mạng
từ những thiết bị đã được quản lý và chưa được quản lý.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Forefront giúp bảo vệ các dữ liệu nhạy cảm và các
tài sản trí tuệ. ISA Server 2006 mang đến những công nghệ giúp các doanh nghiệp
đảm bảo được tính bí mật và tính xác thực của các dữ liệu. Forefront cũng đưa
ra các nguyên tắc giúp nhận dạng những file mang virus hoăc có thể gây ra một
tổn hại nào đó cho hệ thống của bạn
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
- Đơn giản hóa: Các sản phẩm Forefront được thiết kế nhằm
đơn giản hóa việc triển khai, quản lý, phân tích và báo cáo về hệ thống CNTT để
các doanh nghiệp có thể yên tâm là hệ thống của họ được bảo vệ an toàn.
1.
Việc
triển khai được đơn giản hóa: Sự tích hợp của Forefront với Active Directory và
System Center cho phép sẵn sàng triển khai các
chính sách và phần mềm bảo mật. Người dùng cũng như những nhà quản trị có thể
thấy được lợi ích từ việc phân bổ một cách tập trung các chính sách, hệ điều
hành hay các phần mềm chống virus cho máy chủ cũng như máy trạm.
2.
Việc
phân tích và báo cáo được thống nhất: Forefront tập trung hóa sự tập hợp và
phân tích các thông tin quản lý bảo mật vì các thông tin bảo mật được lưu trong
kho chứa Máy chủ SQL riêng lẻ có thể sử dụng các dịch vụ Phân tích và Báo cáo
máy chủ SQL để nhận diện và diễn giải các sự kiện bảo mật.
3.
Việc
quản lý được đơn giản hóa: Với Forefront, việc quản lý và báo cáo được tập
trung hóa, các bộ phận của nó được tích hợp với các giải pháp Trung tâm Hệ
thống và với các dịch vụ Cập nhật Máy chủ Windows. Các thiết bị quản lý đã được
tích hợp Forefront mang đến các giao diện quen thuộc, dễ sử dụng, giúp giảm
được thời gian đào tạo và chi phí quản lý.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
1. Tích hợp với các
ứng dụng máy chủ Microsoft của bạn: Các sản phẩm giúp truy cập an toàn và chống
lại malware của Microsoft Forefornt được thiết kế nhằm tích hợp và bảo vệ các
ứng dụng máy chủ dành cho doanh nghiệp như Microsoft Exchange, Microsoft
Outlook Web Access và Microsoft Office SharePoint. Sự tích hợp này giúp chống
lại những hiểm họa mới nhất có thể xảy đến với các ứng dụng.
2. Tích hợp với hệ
thống hạ tầng cơ sở CNTT của bạn: Các sản phẩm Forefront có thể hoạt động tốt
trong hạ tầng cơ sở thông tin có sẵn của bạn bao gồm Active Directory, Group
Policies, Systems Management Server và Windows Update Services. Hạ tầng cơ sở
hợp nhất này cho phép các doanh nghiệp quản lý việc khai các giải pháp bảo mật,
kiểm soát hệ thống CNTT một cách liền mạch, không bị đứt quãng.
3. Tích hợp giữa các
sản phẩm: Các sản phẩm Forefront có thể hoạt động tốt trong hạ tầng cơ sở thông
tin có sẵn của bạn bao gồm Active Directory, Group Policies, Systems Management
Server và Windows Update Services. Hạ tầng cơ sở hợp nhất này cho phép các
doanh nghiệp quản lý việc khai các giải pháp bảo mật, kiểm soát hệ thống CNTT
một cách liền mạch, không bị đứt quãng.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
III.Yêu cầu Hệ Thống:
Microsoft forefront client security agent
• CPU: 700 MHz, RAM: 256 MB ,HDD: Còn trống 350
MB
• Security agent được triển khai trên các hệ điều hành sau:
- Windows Vista
Business
- Windows Vista
Ultimate
- Windows Vista Home
- Windows Vista Enterprise
- Windows Vista Business with Service Pack 1 or
later
- Windows Vista Ultimate with Service Pack 1 or
later
- Windows Vista Home with Service Pack 1 or later
- Windows Vista Enterprise with Service Pack 1 or
later
- Windows XP with Service Pack 2 or later
- Windows 2000 with Service Pack 4
- Windows 2003 server with Services Pack 1
- Windows 2003 server R2
- Mới đây Microsoft giới thiệu Microsoft
forefront client security 2.0 làm việc trên Windows 7 và Windows server 2008 R2
Microsoft forefront client security server
• CPU: 1Ghz, RAM 1GB, đĩa cứng còn trống ít nhất
6 GB.
• Hệ điều hành: Microsoft Windows Server® 2003
Service Pack 1 Standard Edition hoặc Enterprise Edition, hoặc Windows Server
2003 R2 Standard Edition hoặc Enterprise Edition
• Microsoft SQL Server™ 2005 Enterprise Edition
hoặc Standard Edition with Service Pack 1 (bao gồm: Database Services,
Reporting Services, Workstation Components, and Integration Services)
• Windows Server Update Services 2.0 with Service
Pack 1 hoặc Windows Server Update Services 3.0
Tài Liệu Tham Khảo
http://www.microsoft.com/vietnam/forefront/default.aspx
Trần Kim Phượng
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Windows
Server 2008 tích hợp giao thức SSTP VPN. Cơ bản, SSTP, Secure Socket Tunnel
Protocol, là PPP (Point-To-Point Protocol – Giao thức liên kết điểm) trên SSL
(Secure Sockets Layer). SSTP cho phép người dùng kết nối tới máy chủ VPN qua
cổng 443 của TCP, cũng giống như những kết nối SSL khác, và nó làm việc với
những Web Proxy chưa thẩm định quyền, do đó dù điểm truy cập sử dụng một hệ
thống tường lửa ISA cho truy cập ngoài thì những kết nối SSTP sẽ vẫn hoạt động
bình thường.
Trong
bài viết này chúng ta sẽ cấu hình máy chủ SSTP VPN và cấu hình ISA Firewall để
cho phép máy trạm SSTP VPN kết nối trở lại máy chủ SSTP VPN. ISA Firewall sẽ
được cấu hình với hai Publishing Rule.
- một Server Publishing Rule cho phép kết nối trở lại máy
chủ SSTP
- một Web Publishing Rule cho phép thực hiện kết nối trở
lại điểm phân phối CRL (CDP).
Trước
tiên chúng ta sẽ cấu hình hệ thống mạng theo hình này:

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Chúng ta cần chú ý hai kết nối dữ liệu. Đầu tiên, một kết nối SSTP
cần phải thực hiện qua ISA Firewall sẽ kết thúc tại máy chủ SSTP SSL VPN. Kết
nối thứ hai cần thực hiện hai bước truyền qua hệ thống mạng (bước đầu tiên là
một kết nối HTTP thực hiện qua ISA Firewall, và bước thứ hai được thực hiện qua
cổng nối SSL VPN tới CDP). Để hỗ trợ tiến trình này chúng ta cần cấu hình cổng
nối SSL VPN trở thành một máy chủ NAT thực hiện đảo chiều NAT để cho phép truy
cập tới CDP phía sau máy chủ VPN.
Lưu
ý, máy trạm SSTP VPN phải sử dụng phiên bản Windows Vista
SP1. Phiên bản Vista RTM không hỗ trợ SSTP.
Trong ví dụ này, ISA Firewall không phải là một thành viên của miền vì thành
viên miền không cần thiết trong trường hợp này. Nếu muốn kết nạp ISA Firewall
làm thành viên miền chúng ta sẽ phải cấu hình ISA Firewall sử dụng một router
phía sau giao tiếp nội bộ của ISA Frirewall vì giao tiếp nội bộ miền không thực
hiện với các thiết bị NAT trong kết nối này. Router này sẽ được đặt cùng với
máy chủ VPN, do đó giao tiếp ngoài và giao tiếp nội bộ sẽ xuất hiện trên những
ID mạng phản chiếu những giao tiếp này trên hệ thống cổng nối SSTP VPN.
Cổng nối SSTP VPN là một thành viên miền do đó chúng ta có thể tận dụng được
quá trình thẩm định quyền của Windows. Nếu không muốn cổng nối SSTP VPN là một
thành viên miền, chúng ta có thể cài đặt một Network Policy Server trên mạng
tập thể và cấu hình máy chủ VPN sử dụng nó để thẩm định quyền và tính toán (máy
chủ Network Policy Server trong Windows Server 2008 thay thế cho máy chủ ISA
trong Windows Server 2003).
Máy tính CDP trên mạng nội bộ là một Domain Controller cho miền msfirewall.org.
Những máy chủ chức năng được cài đặt trên máy tính này bao gồm Active Directory
Certificate Services, DHCP Server, DNS Server, Active Directory Domain
Services, và tính năng WINS Server.
Chúng ta cần phải thực hiện các bước sau:
- Cài đặt IIS trên máy chủ VPN.
- Yêu cầu một chứng nhận hệ thống cho máy chủ
VPN sử dụng IIS Certificate Request Wizard.
- Cài đặt máy chủ chức năng RRAS trên máy chủ
VPN.
- Kích hoạt máy chủ RRAS rồi cấu hình nó trở
thành một máy chủ NAT và VPN.
- Cấu hình máy chủ NAT xuất bản CRL.
- Cấu hình User Account cho phép các kết nối
dial-up.
- Cấu hình IIS trên Certificate Server cho
phép các kết nối HTTP cho thư mục CRL.
- Cấu hình ISA Firewall với một máy chủ PPTP
VPN, máy chủ SSL VPN và Web Publishing Rule của CDP.
- Cấu hình file HOSTS trên máy trạm
VPN.
- Sử dụng PPTP để kết nối tới máy chủ
VPN.
- Tạo một CA Certificate từ Enterprise CA.
- Cấu hình ISA Firewall với một Publishing
Rule của máy chủ SSL VPN và CDP.
- Cấu hình máy trạm sử dụng SSTP và kết nối
tới máy chủ VPN sử dụng SSTP.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Bài Lab cấu hình từng bước cụ thể các bạn xem
thêm trong file đính kèm.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Kết Luận:
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Trong phần này chúng ta đã
tìm hiểu qua một số nhược điểm của truy cập VPN từ xa tại các điểm công cộng
và phương pháp giao thức SSTP giúp khắc phục những vấn đề này bằng cách cho
phép các kết nối VPN thực hiện qua một kết nối SSL qua TCP cổng 443 được cho
phép qua mọi tường lửa trong những môi trường này. Ngoài ra, chúng ta cũng nắm được các bước cấu hình cụ thể SSTP VPN Server và ISA Firewall.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
(Hết)
Tài Liệu Tham Khảo:
- www.3c.com.vn
Kim Phuong Tran
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Trong bài viết này, mình sẽ giới thiệu
tổng quan về SSTP, cách thức hoạt động của SSTP bao gồm 4 phần:
Phần
1: Giới thiệu
Phần
2: Vì sao sử dụng SSTP trong VPN ?
Phần
3: SSTP họat động như thế nào?
Phần
4: Ví dụ
Phần 5: Bài Lab thực hành
Như chúng ta đã được biết VPN là một
giải pháp hỗ trợ truy cập từ xa có chi phí và hiệu quả tốt nhất hiện nay cho
một hệ thống mạng doanh nghiệp. Ta có thể triển khai hệ thống VPN để phục vụ
các nhu cầu:
·
Hỗ trợ truy cập từ xa vào hệ thống mạng nội bộ
(VPN Client-to-Gateway)
·
Kết nối các hệ thống mạng nằm ở nhiều vị trí địa
lý khác nhau (VPN Site-to-Site)
Từ trước đến nay, hệ thống VPN hỗ trợ
2 cơ chế kết nối là:
·
Point-to-Point Tunneling Protocol (PPTP)
·
Layer Two Tunneling Protocol (L2TP)
Nhưng hiện nay, ngoài 2 cơ chế PPTP và
L2TP trên Windows Server 2008 và Windows Vista Service Pack 1 còn hỗ trợ thêm
một cơ chế kết nối mới là: Secure Socket
Tunneling Protocol (SSTP).
Phần 1: Giới thiệu
SSTP (Secure Socket Tunneling Protocol) là một dạng của kết nối VPN trong
Windows Vista và Windows Server 2008. SSTP sử dụng các kết nối HTTP đã được mã
hóa SSL để thiết lập một kết nối VPN đến VPN gateway. SSTP là một giao thức rất
an toàn vì các thông tin quan trọng của người dùng không được gửi cho tới khi
có một “đường hầm” SSL an toàn được thiết lập với VPN gateway. SSTP cũng được
biết đến với tư cách là PPP trên SSL, chính vì thế nó cũng có nghĩa là bạn có
thể sử dụng các cơ chế
chứng thực PPP và EAP để bảo đảm cho các kết nối SSTP được an toàn hơn.
Phần 2: Vì sao sử dụng SSTP trong VPN ?
·
Mạng riêng ảo VPN cung cấp một cách kết nối từ
xa đến hệ thống mạng thông qua Internet. Windows Server 2003 hỗ trợ các đường
hầm VPN dựa vào PPTP và L2TP/IPSec.Nếu người dùng truy cập từ xa ở đằng sau một
Firewall,những đường hầm này đòi hỏi các port riêng biệt được mở bên trong các
firewall như các port TCP 1723 và giao thức IP GRE để cho phép kết nối PPTP.
·
Có những tình huống như nhân viên ghé thăm khách
hàng,địa điểm đối tác hoặc khách sạn mà hệ thống chỉ cho truy cập web
(HTTP,HTTPs),còn tất cả các port khác bị ngăn chặn.Kết quả,những user từ xa này
gặp phải vấn đề khi thực hiện kết nối VPN do đó làm tăng cuộc gọi nhờ trợ giúp
và giảm năng suất của nhân viên. Secure Socket Tunneling Protocol(SSTP) là một
đường hầm VPN mới được giới thiệu trong Windows Server 2008 nhằm giải quyết vấn
đề kết nối VPN này.
·
SSTP thực hiện điều này bằng cách sử dụng HTTPs
làm lớp vận chuyển sao cho các kết nối VPN có thể đi qua các firewall,NAT và
server web proxy thường được cấu hình.Bởi vì kết nối HTTPs (TCP 443) thường
được sử dụng để truy cập các site Internet được bảo vệ như các web site thương
mại,do đó HTTPs thường được mở trong các firewall và có thể đi qua các Proxy
web,router NAT.
·
VPN Server chạy trên nền Windows Server 2008 dựa
vào SSTP để lắng nghe các kết nối SSTP tùu VPN client.SSTP server phải có một
Computer Certificate được cài đặt thuộc tính Server Authentication.Computer
Certificate này được sử dụng để xác thực server SSTP với client SSTP trong quá
trình thiết lập session SSL.Client hiệu lực hóa certificate của server SSTP.Để
thực hiện điều này thì Root CA cấp phát certificate cho SSTP server phải được
cài đặt trên client SSTP.
·
Đường hầm VPN dựa vào SSTP có chức năng như một
đường hầm peer-L2TP và dựa vào PPTP.Điều này có nghĩa PPTP được bao bọc trên
SSTP mà sao đó gửi các lưu lượng cho cho kết nối HTTPs.Như vậy,tất cả các tính
năng khác của VPN như kiểm tra sức khỏe dựa vào NAT,tải lưu lượng IPV6 trên
VPN,các thuật toán xác thực như username và smartcard...và client VPN dựa vào
trình quản lý kết nối vẫn không thay đổi đối với SSTP,PPTP và L2TP.Nó giup cho
Admin một đường dẫn di trú tốt để di chuyển từ L2TP/PPTP đến SSTP.
Phần 3: SSTP họat động như thế nào?
SSTP họat động trên HTTPs tức là chỉ HTTP sử dụng SSL cho sự
bảo mật thông tin và dữ liệu.SSL cũng cung cấp cơ chế xác thưc các điểm cuối
khi đuợc yêu cầu sử dụng PKI.SSTP sử dụng SSL để xác thực server với client và
nó dựa vào PPP chạy trên để xác thực client với server.Nghĩa là Client xác thực
server bằng certificate và Server xác thực Client thông qua giao thức hiện có
được hỗ trợ bởi PPP.
·
Khi Client kết nối với Remote Access Server bằng
cách sử dụng SSTP làm giao tác tạo lập đường hầm,SSTP thiết lập session HTTPs
với server từ xa tại port 443 ở một địa chỉ URL riêng biệt.Các xác lập proxy
HTTP được cấu hình thông qua IE sẽ được sử dụng để thiết lập kết nối này.
·
Với session HTTPs,client đòi hỏi server cung cấp
certificate để xác thực.Khi thíết lập quan hệ SSL hòan tất,các session HTTP được
thíet lập trên đó.Sau đó,SSTP được sử dụng để thương lượng các tham số giữa
Client và Server.Khi lớp SSTP được thíêt lập,việc thương lượng SSTP được bắt
đầu nhằm cung cấp cơ chế xác thực client với server và tạo đường hầm cho dữ
liệu.
Phần 4: Ví dụ
Client có địa chỉ IP 192.168.1.4 nằm đằng sau một proxy Web
có IP:192.168.1.15:8080.Thiết lập một đường hầm SSTP đến RAS server có địa chỉ
IP Public 210.245.22.113 Server được public với domain abc.com.
Các
bước thiết lập đường hầm
- Client kết nối đến VPNserver
- Yêu cầu kết nối gửi đến proxy
server.Proxy server thiết lập nối kết TCP với port 443.
- Thiết lập quan hệ kết nối SSL,nhận
và kiểm tra certificate.
- Client gửi yêu cầu HTTP đến server
để thiết lập session HTTPs.
- SSTP thương lượng các tham số trên
session HTTPs.
- PPP bắt đầu trên SSTP,cung cấp cơ
chế xác thực client và các tham số khác như IP đường hầm...
- Một Interface ảo (PPP Adapter) được
tạo trên client có IP được cấp từ Server.
- Dữ liệu được truyền đi giữa client
và server thông qua Interface ảo sẽ được tạo đường hầm đến VPN Server và
đi vào intranet bên trong.
Phần 5: Bài Lab thực hành cấu hình SSTP VPN, các bạn có thể tham khảo tại địa chỉ: http://nhatnghe.com/forum/showthread.php?t=20912 (Mục các bài viết có giá trị)
Tài Liệu tham khảo:
www.nhatnhge.com
Kim Phuong Tran
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Exchange
Server 2010 với những kiến trúc lưu trữ và công nghệ mới đã góp phần cải thiện
phần nào các hạn chế của Exchange Server rtrong các phiên bản trước đồng thời
đây cũng là tiền đề mở ra cho Exchange Server 2010 những khả năng mới về HA giúp
doanh nghiệp có thể tiết kiệm được nhiều chi phí. Tuy nhiên, những khái niệm về
HA trong phiên bản Exchange 2007 đã hoàn toàn được thay thế mới.
Ngày 17/11 vừa qua, Microsoft Việt Nam đã chính thức công bố việc ra
mắt sản phẩm Exchange Server 2010 bản RTM (tức là phiên bản chính thức dành cho
thị trường). Phiên bản này có nhiều tính năng mới thú vị đặc biệt là việc thiết
kế lại những tính năng có liên quan đến việc đảm bảo sự liên tục cao nhất cho
hoạt động của hệ thống Exchange Server để người dùng có thể truy cập
Các tính năng
của Exchange được chia thành 5 server role như sau: Mailbox, client Access, Hub
Transport, Edge Transport, và Unifed Messaging . Ở đây ta chỉ đề cập đến kiến trúc
trong Mailbox Server Role, cụ thể là các công nghệ được sử dụng để lưu trữ
trong Exchange và luồng dữ liệu mail giữa Exchange Server 2010 và Mailbox
Server.

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Exchange Server
2010 sử dụng một cơ sở dữ liệu chính để lưu trữ dữ liệu (ở đây là mail và
message) . Cơ sở dữ liệu này là một hệ thống giao dịch được xây dựng trên công
nghệ ESC (Extensible Storage Engine (ESE), thường được nhắc đến như là JET database.
Mặc định, khi cài đặr Exchange server 2010 Mailbox Server, thì database này
được lưu trữ trong C:\Program Files\Microsoft\Exchange
Server\V14\Mailbox\Mailbox Database <<một số ngẫu nhiên>>\.
(số ngẫu nhiên
này được sinh ra nhằm bảo đảm tính duy nhất cho database trong hệ thống gồm
nhiều Exchange Server).
Một số file cấu
hình mặc định trong Exchange server 2010 Mailbox Server:
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
- “mailbox database 0242942819.edb”
- E00.log
- E00000003a.log, E000000003b.log,
E00000003c.log, etc.
- E00.chk
- E00res00001.log and E00res00002.log
- E00tmp.log
- Tmp.edb
Notes: Ví dụ, số
ngẫu nhiên ở đây là 0242942819, do đó tên của Mailbox Database là “mailbox
database 0242942819.edb.”
Tất cà tên file cấu hình ở trên đều bắt đầu
với 3 kí tự: E00; đây được gọi là database prefix. Database đầu tiên trong
Exchange có tiên tố là E00, kế tiếp sẽ là E01 và cứ như thế Exchange sẽ đặt tên
tương ứng cho các database.
Luồng dữ liệu
giữa Exchange Server và Mailbox Database
Đối với Exchange
Server 2010, dữ liệu được xử lí từng block 32 KB (còn gọi là Page), Exchange
Server 2007 sử dụng 8KB pages, Exchange Server 2003 and earlier sử dụng 4KB
pages. Phần bộ nhớ được sử dụng để ghi cac trang nhớ này còn được gọi là
"cache buffers". Quá trình này diễn ra theo 4 bước sau:

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
- Dữ liệu mail được xử lí theo từng
trang nhớ.
- Những trang được cập nhật sẽ được
ghi lại vô file log
- Nếu trang nhớ không còn được sử dụng
bởi Exchange thì nó sẽ được ghi xuống database
- File checkpoint sẽ được cập nhật
lại để ánh xạ các trang mới hay vừa được cập nhật được ghi xuống database.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Extensible
Storage Engine (ESE)
Như đã đề cập ở
trên, đây là Database Engine được sử dụng trong Exchange Server 2010. ESE bao
gồm nhiều phiên bản như sau:
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
- ESE97 cho Exchange Server 5.5
- ESE98 cho Exchange Server 2000/2003
- ESENT cho Active Directory
- ESE cho Exchange Server 2007 và
Exchange Server 2010.
ESE là một
database engine cấp thấp, tức là nó hiểu tất cả các kiểu dữ liệu cơ sở như: short,
string, long, longlong, systime, etc., nhưng nó không hiểu các kiểu dữ liệu
melta date hay schema. Đây là điểm trái ngược so với Microsoft SQL Server .
Mailbox Database
File “mailbox
database 0242942819.edb” là kho lưu trữ dữ liệu chính của Exchange Server 2010
Mailbox Server role. Thay vì trong Exchange Server 2007, file này được gọi là “mailbox
database.edb”, trong khi đó đối với Exchange 2003 và Exchange 2000, bao gồm 2
files: “priv1.edb và priv1.stm”. Trong Exchange Server 2010, một Mailbox Server
có thể chứa tới 100 databases.
Theo Microsoft
đề nghị, kích cỡ file lớn nhất của Mailbox Database trên Exchange
Server 2010 là
2TB. So với giới hạn 200GB trong Exchange 2007 (sử dụng Continuous Cluster
Replication) thì đây đã là sự đột phá đáng kể. Thế nhưng nên ngớ rằng điều tiên quyết để dùng kích cỡ này là bạn phải cấu hình nhiều database
copies nhằm đạt được High Availability.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Hướng dẫn cài đặt:
Yêu cầu hệ thống:
PC―kiến trúc x64 hỗ trợ Intel 64 (trước đây là Intel EM64T) hoặc AMD processor hỗ trợ AMD64 platform;
Hệ điều hành―Microsoft Windows Server 2008 phiên bản Standard x64 hoặc Enterprise x64
Hệ điều hành dành cho việc cài đặt các công cụ quản lý―Các
phiên bản 64-bit của Microsoft Windows Vista SP1 hoặc mới hơn, hoặc
Windows Server 2008. Ghi chú: Chỉ dành cho việc cài đặt các công cụ
quản lý.
- Yêu cầu bổ sung cho Exchange Server 2010
Bộ nhớ ―Tối thiểu là 4 gigabytes (GB) RAM mỗi Server cộng thêm 5 megabytes (MB) RAM cho mỗi mailbox
-
Ít nhất là 1.2 GB dành cho việc cài đặt
-
Thêm 500 MB đĩa trống cho mỗi Unified Messaging (UM) language pack mà bạn dự định cài đặt
-
200 MB đĩa trống trên đĩa hệ thống
Ổ đĩa quang―DVD-ROM (gắn trực tiếp hoặc truy cập qua mạng)
Định dạng file―Phân vùng đĩa định dạng theo kiểu NTFS
Màn hình―độ phân giải 800x600 hoặc cao hơn
Nếu
bạn chưa cài đặt trước những phần mềm sau thì Exchange Server 2010 sẽ
cho bạn đường dẫn để cài đặt. Bạn cũng cần phải có kết nối internet để
sẵn sàng cho công việc này:
Microsoft .NET Framework 3.5 SP1
Windows PowerShell v2.0
Thực
tế sẽ khác nhau tùy thuộc vào cấu hình của hệ thống và những tính năng
mà bạn dự kiến cài đặt. Để xem thông tin chi tiết bạn vui lòng truy
cập vào Exchange Server 2010 Technical Documentation Library.
- Vai trò của các bộ phận tron Exchange
Từng vai trò khác nhau thì Exchange 2010 đòi hỏi những components khác nhau:
- Đối
với máy chủ được cài đặt vai trò Hub Transport hoặc Mailbox Server, bạn
cần cài thêm Microsoft Filter Pack. Có thể được download tại link này 2007 Office System Converter: Microsoft Filter Pack.
- Trong máy chủ cài đặt Exchange mở Windows Power Shell để cài đặt các components. Bước đầu tiên cần thực hiện là gõ lệnh sau:
Import-Module ServerManager
- Windows 2008 R2 đã không còn sử dụng công cụ ServerManagerCMD
để cài đặt hoặc remove những component của server nữa mà thay vào đó là
công cụ Add-WindowsFeature hoặc Remove-WindowsFeature chính vì vậy ta sẽ sử dụng công cụ này để cài đặt các components cần thiết.
a. Đối với máy chủ cài chung các vai trò Client Access, Hub Transport và the Mailbox gõ lệnh sau:
Add-WindowsFeature
NET-Framework,RSAT-ADDS,Web-Server,Web-Basic-Auth,Web-Windows-Auth,Web-Metabase,Web-Net-Ext,Web-Lgcy-Mgmt-Console,WAS-Process-Model,RSAT-Web-Server,Web-ISAPI-Ext,Web-Digest-Auth,Web-Dyn-Compression,NET-HTTP-Activation,RPC-Over-HTTP-Proxy
-Restart
b. Đối với máy chủ sẽ cài chung các vai trò Client Access, Hub Transport, Mailbox và Unified Messaging gõ lệnh sau:
Add-WindowsFeature
NET-Framework,RSAT-ADDS,Web-Server,Web-Basic-Auth,Web-Windows-Auth,Web-Metabase,Web-Net-Ext,Web-Lgcy-Mgmt-Console,WAS-Process-Model,RSAT-Web-Server,Web-ISAPI-Ext,Web-Digest-Auth,Web-Dyn-Compression,NET-HTTP-Activation,RPC-Over-HTTP-Proxy,Desktop-Experience
-Restart
c. Đối với máy chủ sẽ cài chung hai vai trò Client Access và Hub Transport gõ lệnh sau:
Add-WindowsFeature
NET-Framework,RSAT-ADDS,Web-Server,Web-Basic-Auth,Web-Windows-Auth,Web-Metabase,Web-Net-Ext,Web-Lgcy-Mgmt-Console,WAS-Process-Model,RSAT-Web-Server,Web-ISAPI-Ext,Web-Digest-Auth,Web-Dyn-Compression,NET-HTTP-Activation,RPC-Over-HTTP-Proxy
-Restart
d. Đối với máy chủ sẽ cài chung hai vai trò Hub Transport và Mailbox gõ lệnh sau:
Add-WindowsFeature
NET-Framework,RSAT-ADDS,Web-Server,Web-Basic-Auth,Web-Windows-Auth,Web-Metabase,Web-Net-Ext,Web-Lgcy-Mgmt-Console,WAS-Process-Model,RSAT-Web-Server
-Restart
e. Đối với máy chủ sẽ cài chung hai vai trò Client Access và Mailbox server gõ lệnh sau:
Add-WindowsFeature
NET-Framework,RSAT-ADDS,Web-Server,Web-Basic-Auth,Web-Windows-Auth,Web-Metabase,Web-Net-Ext,Web-Lgcy-Mgmt-Console,WAS-Process-Model,RSAT-Web-Server,Web-ISAPI-Ext,Web-Digest-Auth,Web-Dyn-Compression,NET-HTTP-Activation,RPC-Over-HTTP-Proxy
-Restart
f. Đối với máy chủ chỉ cài Client Access gõ lệnh sau:
Add-WindowsFeature
NET-Framework,RSAT-ADDS,Web-Server,Web-Basic-Auth,Web-Windows-Auth,Web-Metabase,Web-Net-Ext,Web-Lgcy-Mgmt-Console,WAS-Process-Model,RSAT-Web-Server,Web-ISAPI-Ext,Web-Digest-Auth,Web-Dyn-Compression,NET-HTTP-Activation,RPC-Over-HTTP-Proxy
-Restart
g. Đối với máy chủ chỉ cài vai trò Hub Transport hoặc the Mailbox role:
Add-WindowsFeature
NET-Framework,RSAT-ADDS,Web-Server,Web-Basic-Auth,Web-Windows-Auth,Web-Metabase,Web-Net-Ext,Web-Lgcy-Mgmt-Console,WAS-Process-Model,RSAT-Web-Server
-Restart
i. Đối với máy chủ chỉ cài vai trò Unified Messaging gõ lệnh sau:
Add-WindowsFeature
NET-Framework,RSAT-ADDS,Web-Server,Web-Basic-Auth,Web-Windows-Auth,Web-Metabase,Web-Net-Ext,Web-Lgcy-Mgmt-Console,WAS-Process-Model,RSAT-Web-Server,Desktop-Experience
-Restart
j. Đối với máy chủ chỉ cài Edge Transport gõ lệnh sau:
Add-WindowsFeature NET-Framework,RSAT-ADDS,ADLDS -Restart
4.
Sau khi khởi động máy chủ sau quá trình cài đặt components xong log lại
vào server với quyền admin và gõ lệnh sao trên Power Shell:
Set-Service NetTcpPortSharing -StartupType Automatic
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Cài đặt qua giao diện đồ họa:
Màn hình cài đặt tương đối giống màn hình cài đặt của Exchange 2007
chỉ có điều do Exchange 2010 hỗ trợ nhiều ngôn ngữ ngay cả trên
Management Console nên trong màn hình cài đặt có thêm bước lựa chọn
ngôn ngữ. Trong bước này ta có thể chọn các ngôn ngữ có sẵn trong đĩa
cài vì dù sao cũng chưa có tiếng Việt.
Các file cài đặt cần thiết sẽ được copy vào thư mục windows\temp và
chương trình cài đặt sẽ được gọi từ đây. Nên khi quá trình cài đặt xuất
hiện như màn hình ở dưới thì bạn có thể bỏ đĩa DVD cài đặt ra được.

Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Sau khi chọn ngông ngữ xong lựa chọn bước 4: Install Microsoft Exchange

Trong quá
trình cài đặt nên lựa chọn để winzard cài đặt thông báo các lỗi có thể
xảy ra trong quá trình cài đặt, việc này sẽ hỗ trợ rất nhiều cho những
người mới cài đặt lần đầu, khi mà sự chuẩn bị chưa đầy đủ.

Màn hình lựa chọn role tương tự như khi cài đặt Exchange 2007.

Quá trình
check hệ thống trước khi cài đặt. Lưu ý: nếu cài đặt mới bằng giao diện
đồ họa cho một hệ thống mà không có Exchange 2007 hoặc 2003 có trước
thì bạn sẽ không thể cài đặt được Exchange 2007 sau đó như cảnh báo ở
hình trên.

Quá trình cài đặt hoàn tất!
Cài đặt bằng command:
Tương tự như phiên bản Exchange 2010 beta và Exchange 2007 phiên bản Exchange này cũng hỗ trợ cài đặt bằng giao diện command.
Lệnh đầu tiên cần thực hiện trong quá trình cài đặt Exchange là
prepareAD. Bước này sẽ thực hiện đồng thời prepare Schema: bổ xung
những thuộc tính mới mà Exchange cần vào bộ thuộc tính cơ bản của AD và
prepare domain: phân những quyền cần thiết để người dùng có thể hoạt
động được với hệ thống mail.

Quá
trình cài đặt sẽ được tiến hành. Bạn sẽ được yêu cầu accept license của
exchange bằng cách không cancel quá trình (Ctrl + C).
Sau bước PrepareAD, chúng ta thực hiện cài đặt với command:
setup.com /m:install /r:H,C,M để cài đặt các vai trò Hubtransport,
Client Access và Mailbox.

Quá trình cài đặt thành công!
Và đây là giao diện quản trị Exchange 2010

(Hết Phần 3)
Tổng Kết
Đây chỉ là loạt bài giới thiệu về Microsoft Exchange 2010. qua loạt bài này, mình hy vọng các bạn có thêm cái nhìn tổng quát hơn về Microsoft Exchange 2010. Tổng quan kiến trúc Microsoft Exchange 2010, những điểm mới so với các phiên bản trước và biết cách cài đặt Exchange sao cho hiệu quả. Sau loạt bài này, mình sẽ đi sâu vào từng khía cạnh trong Microsoft Exchnage 2010.
Tài Liệu Tham Khảo:
Tìm hiểu thêm về Microsoft Exchange 2010 và download bản trial tại:
http://www.microsoft.com/exchange
Tham khảo thêm về cách cài đặt Exchange 2010:
http://tudv.spaces.live.com/blog/cns!F6DE97A5FA65E3C2!200.entry
Normal
0
false
false
false
Microsoft Exchange Server 2010 hiện đang
được Gartner xếp vào 1 trong 4 “Đại gia” về giải pháp
truyền thông hợp nhất tốt nhất trên toàn thế giới
trong năm 2009. Chính những công nghệ sau đã giúp Microsoft Exchange
Server nhận được sự ưu ái của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đay chỉ là một số công nghệ chủ yếu được rút trích từ website Microsoft VietNam. Để tham khảo chi tiết hơn, các bạn có thể tra cứu thêm trên trang
http://www.microsoft.com/exchange
- Unified Messaging – Hệ thống thư điện tử hợp nhất
Voice Mail được hợp nhất vào Inbox
cùng với Email và các loại thông điệp khác, do đó người dùng có thể quản lý mọi
thông tin tại một nơi duy nhấ, giúp giảm thời gian và chi phí, bao gồm:
Speech-to-text
Preview: xử lý bản xem trước này như đối với một Email thông thường. Với
tên, thông tin liên hệ, số điện thoại được nhận ra người dùng có thể thêm vào
Contact, gọi điện thông qua Office Communicator, hoặc gửi Email. Để nghe nội
dung voice mail, người dùng chỉ việc Click vào một từ trong bản xem trước và sẽ
được nghe nội dung tiếp theo.
Bảo vệ Voice Mail: quản lý Voice Mail chặt chẽ hơn
bằng cách cung cấp khả năng phân quyền cho ai xem và những hành động họ có thể
thực hiện trên từng Voice Mail. Sử dụng Active Directory Rights Management Services,
Exchange có thể áp dụng tính năng Do Not Forward để ngăn chặn việc Forward
voice mail được chỉ định bởi người gửi (bằng cách đánh dấu Private cho voice
mail) hoặc dựa trên chính sách quản lý của tổ chức. Nhờ đó, voice mail được bảo
vệ không thể Forward đến những người không có thẩm quyền, dù họ đang sử dụng
bất cứ chương trình quản lý mail nào.
Calling Answer Rules: Giải pháp Thông tin hợp nhất
(Unified Messaging) cho phép người dùng quản lý chặt chẽ hơn cách thức trả lời
cuộc gọi. Với một nhân viên kinh doanh, bạn sẽ thích chuyển một cuộc gọi quan
trọng liên quan đến cơ hội bán hàng đến chính hộp voice mail của mình hơn là
chuyển đến một đường dây cố định nào đó. Qui tắc trả lời cuộc gọi có thể gửi
lời chào do bạn tự tạo ra đến người gọi, cho phép người gọi lựa chọn tìm kiếm
người trong tổ chức, chuyển cuộc gọi vào hộp thư thoại. Các qui tắc này có thể
dựa trên các điều kiện như ID người gọi, thời gian, tình trạng free/busy trên
Exchange, cho phép người dùng quản lý cách mà họ được tìm tới qua điện thoại.
Outlook Voice Access: Người dùng có thể quản
lý Inbox với Outlook Voice Access bằng cách sử dụng phím trên điện thoại hoặc
bằng giọng nói, nhờ đó họ có thể truy cập từ bất cứ đâu dù không có máy tính
hay các thiết bị kết nối internet khác. Người dùng không còn phải lo lắng về
việc trễ hẹn hay mất kết nối khi đang trên đường đi vì họ có thể gọi vào hộp
thư của mình và quản lý lịch làm việc, thông tin liên hệ và email.
Normal
0
false
false
false
- Mailbox Resiliency – Phục hồi
Mailbox
Microsoft Exchange 2010 cung cấp một giải pháp thống nhất
các tính năng High Availability (tính sẵn sàng đáp ứng cao), Disaster Recovery
(khắc phục sự cố khi xảy ra thảm họa) và Backup (sao lưu dự phòng). Tính năng
High Availability có thể thêm vào mà không cần cài đặt lại server. Tất cả các
công việc liên quan đến quản trị đều thực hiện ngay trong Exchange. Nhà quản
trị có thể cấu hình một Database Availability Group (DAG) với tối đa 16 mailbox
server để tự động khắc phục sự cố ở mức cơ sở dữ liệu. Chỉ mất chưa đến 30 giây
để chuyển sang cơ sở dữ liệu dự phòng khi ổ cứng (chứa CSDL chính) gặp sự cố, tránh
sự gián đoạn công việc trong tổ chức. Tính năng Online Mailbox Move cho phép
người dùng vẫn có thể truy cập hộp thư ngay cả khi hộp thư đang được di chuyển.
Exchange 2010 cắt giảm 90% thao tác truy xuất đĩa cứng so với phiên bản
Exchange 2003, và Exchange 2010 có thể triển khai với nhiều kiểu lưu trữ và
loại đĩa cứng khác nhau mà không ảnh hưởng gì đến các tính năng, nhờ đó tổ chức
của bạn có thể mang đến cho người dùng dung lượng hộp mail lớn hơn với chi phí thấp
hơn trước.
·
Database availability group: DAG là một
tập hợp các mailbox server sử dụng nhằm sao chép liên tục các CSDL, kết hợp với
nhau để quản lý các lỗi ảnh hưởng đến một CSDL nào đó. DAG cung cấp tính năng
tự động khắc phục lỗi ở nhiều mức độ khác nhau (lỗi đĩa cứng, server,
datacenter).
·
Database-level failover: Exchange 2010
DAG cung cấp khả năng tự động khắc phục sự cố ở mức CSDL trong khi tránh được
sự phức tạp so với tính năng Clustering truyền thống. Một hư hỏng ở CSDL, chẳng
hạn như do đĩa cứng bị lỗi, sẽ không còn ảnh hưởng đến người dùng. Bởi vì hiện
tại không còn sự ràng buộc quá chặt chẽ giữa CSDL và server, việc chuyển từ một
CSDL chính sang các bản dự phòng rất đơn giản khi đĩa cứng gặp sự cố. Sự thay đổi
này cùng với thời gian khắc phục rất nhanh chóng (trong vòng 30 giây) giúp
tránh tối đa sự gián đoạn công việc.
·
Improved site resiliency: Exchange Server
DAG cho phép dễ dàng triển khai mô hình trạm dự phòng. Chúng đơn giản chỉ là
qui trình mở rộng việc nhân bản các cơ sở dữ liệu giữa các datacenter cách xa
nhau đảm bảo hệ thống vẫn sẵn sàng khi 1 trạm bị sự cố hoàn toàn. Giải pháp,
được xây dựng trong Exchange 2010, giờ đây cho phép quản lý những dữ liệu đã
được nhân bản tại trạm hiện hành và trạm dự phòng và cả các mailbox servers.
Các bản sao cơ sở dữ liệu có thể được triển khai gia tăng để đáp ứng độ sẵn
sàng nhất định cho tổ chức của bạn. Các log files cũng sẽ được mã hóa để đàm
bảo độ an toàn cao hơn và cũng có thể được nén để tối ưu việc sử dụng băng
thông mạng và thời gian truyền tải.
·
Integrated administration – Tính năng quản
trị tích hợp: Tất cả tính năng High Availability được quản lý trong
Exchange, nhờ đó bạn không phải xử lý các lỗi thông qua các tính năng của
Windows Server.
·
Built-in mailbox recovery: Tổ chức của bạn
có thể tin cậy vào tính năng High Availability trong Exchange 2010 – cung cấp
đến 16 bản sao lưu CSDL – thay vì phải sử dụng băng từ (Tape) đắt đỏ để sao lưu
dữ liệu, điều này giúp làm giảm chi phí vận hành hệ thống mail.
·
Transport resiliency – Phục hồi lỗi truyền dữ
liệu: Tính năng Transport Server tích hợp trong Exchange 2010 bảo vệ
các email khi xảy ra hư hỏng đĩa cứng hoặc lỗi server. Server luôn giữ lại một
bản sao ẩn của mỗi email khi nó được chuyển tiếp. Nếu có lỗi xảy ra khi email
được chuyển đi, server sẽ tự động dùng bản sao lưu để tiếp tục gởi email đi,
cho đến khi thành công.
·
Online mailbox moves: Bạn có thể di
chuyển hộp thư giữa các server mà không cần phải ngắt kết nối người dùng. Người
dùng vẫn có thể sử dụng hộp mail của họ một cách bình thường khi quá trình di
chuyển này đang diễn ra. Điều này giúp tránh sự gián đoạn công việc và cho phép
nhà quản trị có thể bảo trì hệ thống ngay trong giờ làm việc thay vì phải đợi
đến hết giờ hoặc các ngày nghỉ cuối tuần..
·
Automatic page restore: Exchange 2010 có
khả năng chống sự cố về lưu trữ tốt hơn các phiên bản trước. Khi có hư hỏng ồ
đĩa xảy ra, Exchange tự động sửa chữa lỗi của các CSDL bị ảnh hưởng dựa trên
các bản sao lưu (chỉ áp dụng với các CSDL có cài đặt tính năng High
Availability). Với khả năng tự dò tìm và sửa chữa lỗi bạn có thể tận dụng các
giải pháp lưu trữ giá rẻ mà vẫn đảm bảo sự tin cậy cho hệ thống.
- Management Tools – Công cụ quản lý
Normal
0
false
false
false
Microsoft
Exchange 2010 cung cấp các công cụ và phương thức quản lý giúp giảm chi
phí cho bộ phận hỗ trợ và tăng quyền hạn cho người dùng. Role-based
Access Control (RBAC) cho phép ủy quyền dựa vào chức năng và công việc của
người dùng. Nhà quản trị có thể cấp quyền cho người dùng thực hiện một
số công việc nào đó – chẳng hạn như cho phép những nhân viên kiểm soát
nội bộ tiến hành tìm kiếm trên nhiều mailbox – mà không cần phải cho họ
quyền quản trị và không cho phép họ truy cập toàn bộ giao diện quản lý
của Exchange.
Web-based Exchange Control Panel (ECP) – Chương Trình Quản Lý Exchange
từ giao diện Web ECP cho phép người dùng tạo ra danh sách gửi tin,
theo dõi email, hiệu chỉnh thông tin cá nhân – các công việc cần hỗ trợ
từ bộ phận kỹ thuật nhiều nhất. Exchange 2010 cũng đã cải tiến Exchange
Management Console (EMC) – Chương trình quản lý Exchange bằng dòng
lệnh– dựa trên nền tảng Windows PowerShell 2.0, cho phép nhà quản trị
điều khiển server từ xa thông qua dòng lệnh hoặc cmdlets. Tất cả các
công cụ quản lý Exchange đều có tính năng nhận diện vai trò của người
dùng (Role-based Access Control aware), vì vậy người dùng chỉ có thể
truy cập các tính năng phù hợp với vị trí của họ.
Role-based access control – Quản lý truy cập dựa trên chức năng của người dùng: Nhà
quản trị có thể ủy nhiệm công việc cho người dùng có thẩm quyền, các
quyền này dựa trên các chức năng của Exchange mà người dùng cần thực
hiện và nhà quản trị vẫn kiểm soát các chức năng mà người dùng có thể
truy cập thông qua các công cụ quản lý Exchange. Việc ủy quyền dựa trên
vai trò của người dùng trong tổ chức giúp chia sẻ khối lượng công việc
cho nhà quản trị.
Exchange control panel – Bảng điều khiển Exchange: Bạn
có thể sử dụng khả năng tự phục vụ (self-service) và ủy nhiệm các chức
năng quản trị thông qua giao diện quản lý trên nền Web cho người dùng,
cho phép họ sử dụng các tính năng thông dụng mà không cần sự giúp đỡ từ
bộ phận hỗ trợ. Người dùng sẽ làm việc hiệu quả hơn trong khi chi phí
hỗ trợ giảm.
Distribution group management – Quản lý danh sách gửi thư: Người
dùng có thể tự tạo/ xóa các danh sách gửi thư và tự quản lý vai trò là
thành viên hoặc là chủ sở hữu những danh sách gửi thư đó từ giao diện
Web thân thiện.
Moderated distribution groups – Giám sát danh sách gửi thư: Bạn
có thể bổ nhiệm người giám sát để kiểm soát các email gửi tới một nhóm
người nhận. Bất cứ ai cũng có thể gửi email tới một nhóm, nhưng trước
khi email được gửi tới những người liên quan giám sát viên phải xem và
cho phép, nhờ đó các email có nội dung không phù hợp sẽ không thẻ làm
mất thới gian của một số lượng người nhận lớn.
Message tracking – Theo dõi email: Thông
qua giao diện Web, người dùng có thể theo dõi thông tin gửi/nhận của
tất cả email, giúp tránh việc phải thường xuyên phải gọi hỗ trợ đến bộ
phận kỹ thuật.
- Information
Protection and Control
Normal
0
false
false
false
Các
công cụ của Microsoft Exchange 2010 theo dõi các nội dung nhạy cảm
trong email và giúp tránh việc gởi nhầm các thông tin này. Các cảnh báo
tự động có thể cho người dùng biết các thông tin về chính sách an toàn
thông tin và giúp tránh các lỗi thường gặp có thể dẫn đến việc rò rỉ
thông tin, chẳng hạn như gửi các thông tin quan trọng tới một số lượng
lớn người nhận hoặc gửi nhầm ra bên ngoài tổ chức. Các Transport Rules
thậm chí còn mang đến quyền quản lý mạnh hơn, có thể tự động áp dụng
chính sách bảo vệ thông tin của tổ chức vào các email và xử lý qua các
hành động phù hợp như Cấm (block), Chuyển hướng gửi (redirect), hiệu
chỉnh (modify)… Quản lý phân quyền mã hóa cũng có thể được áp dụng tự
động để kiểm soát truy cập bất cứ khi nào email được gửi đi. Với các
tính năng hỗ trợ Quản lý phân quyền, người dùng có thể tìm kiếm, đọc và
trả lời các email được bảo vệ trong Outlook Web App. Kết hợp cùng nhau,
các tính năng trên bảo đảm sự kiểm soát được áp dụng cho từng email dựa
trên các điều kiện cụ thể và tính nhạy cảm của dữ liệu.
Expanded transport conditions: Cho phép
nhà quản trị có thể tạo nhiều qui luật chuyển tin riêng biệt. Ví dụ,
Exchange 2010 có thể quét một nội dung nào đó từ một file đính kèm
trong Office Outlook, ngoài ra bạn cũng có thể sử dụng iFilters hỗ trợ
các định dạng file của hãng thứ ba. Các qui luật chuyển tin có thể được
tạo dựa trên thuộc tính Active Directory của người dùng (phòng ban,
quốc gia,…) cũng như các kiểu email khác nhau bao gồm cả các email trả
lời tự động khi không có mặt ở văn phòng.
MailTips: Cảnh
báo người gửi khi email có thể vi phạm các chính sách thông tin của tổ
chức hoặc gửi ngoài dự định. Ví dụ, MailTips có thể tạo ra một cảnh báo
nếu email sắp gửi đến số lượng người nhận quá lớn hoặc trong số người
nhận có người bên ngoài tổ chức, bị giới hạn, hoặc đã thay đổi (địa chỉ
mail). Nhà quản trị cũng có thể tự tạo MailTips với các cảnh báo tùy ý
dựa trên đặc điểm của người nhận. Mailtips có thể sử dụng trong cả
Outlook Web App hoặc Microsoft Outlook 2010.
Transport protection rules: Khi
các qui luật bảo vệ được sử dụng cùng với Active Directory Rights
Management Services (AD RMS – Dịch vụ quản lý quyền của AD) nhà quản
trị có thể áp dụng tự động chế độ Information Rights Management (IRM –
Quản lý quyền sử dụng thông tin) để bảo vệ email (bao gồm cả các file
XPS đính kèm) sau khi email được gửi đi. Các qui luật này cung cấp việc
bảo vệ liên tục cho các dữ liệu dù được gửi đến trong hay ngoài tổ
chức, ngăn việc chuyển tiếp, copy hoặc in ấn tùy và chính sách AD RMS.
Outlook protection rules:
Các qui luật này tự động kích hoạt Outlook áp dụng một RMS (Rights
Management Services - Dịch vụ quản lý phân quyền) nào đó phụ thuộc vào
vị trí người gửi/nhận trước khi email được gửi đi. Với các qui luật bảo
vệ của Outlook, nhà quản trị cũng có thể cho phép người dùng tắt tính
năng bảo vệ đối với các email thông thường. Ngoài ra, bởi vì các email
được bảo vệ ngay trên máy tính trước khi gửi đi, các qui luật bảo vệ
của Outlook giúp tổ chức của bạn ngăn các nhà cung cấp dịch vụ hoặc các
nhà quản trị xem các thông tin quan trọng được trao đổi giữa các nhân
viên.
Support for IRM in Outlook Web App: Người
dùng có thể đọc và trả lời (hoặc trả lời tất cả, chuyển tiếp, cấm in,
cắt dán…) bình thường trên các email được bảo vệ bằng IRM giống như
đang sử dụng Outlook. Các email được bảo vệ bởi IRM trong Outlook Web
App có thể truy cập từ Internet Explorer, Firefox và Safari (không cần
cài plug-in). Outlook Web App bao gồm cả các chức năng như Full-text
Search, Conversation View và Preview Pane (khung xem trước nội dung).
Protected voice mail:
Exchange Server 2010 sử dụng AD RMS để cài đặt quyền Do Not Forward
(không cho phép chuyển tiếp) cho một Voice Mail theo chỉ định của người
gửi hoặc theo các chính sách thông tin do nhà quản trị qui định. Chức
năng này giúp người dùng ngăn việc chuyển tiếp thông tin đến những
người không phù hợp mà không cần quan tâm họ đang sử dùng phần mềm quản
lý mail nào.
Transport decryption: cho
phép các transport agents truy cập vào các thư đã được bảo vệ bởi cơ
chế IRM để lọc nội dung, áp dụng các Transport rules, quét virus, spam
và thực hiện các chức năng thiết yếu khác.
Journal decryption: Transport
decryption cũng có thể được dùng cùng với journaling để đảm bảo rằng
các báo cáo journal được gửi tới các journal mailboxes hoặc phần lưu
trữ của các hàng thứ ba bao gồm thông tin đã được giải mã của những thư
đã được bảo vệ bởi IRM (ở dạng clear-text), bao gồm cả các tài liệu
Office và XPS nằm trong các tập tin đính kèm. Transport decryption cho
phép những thư được bảo vệ bằng IRM được lập index và tìm kiếm cho
những mục đích điều tra pháp lý.
IRM search: IRM
search cho phép lập chỉ mục và tìm kiếm những thư đã được bảo vệ bằng
IRM, bao gồm cả phần headers, subject, body, và file đính kèm. IRM
search chạy trên Outlook Web App, Outlook 2010 (online mode) và
Multi-Mailbox Search.
Moderation: đây
là chức năng chuyển các mail tới một người quản lý hoặc một người giám
sát để kiểm tra. Người kiểm soát có thể duyệt hoặc khóa (block) thư này
lại và nếu thư bị block sẽ gửi một thông tin phản hồi lý do lại cho
người gửi.
Dynamic signatures: Dynamic
signatures tự động áp một chữ ký vào cuối 1 e-mail tùy thuộc vào thuộc
tính được cấu hình bởi Active Directory của người gửi. Tính năng này
cũng có thể được cấu hình với chữ ký có định dạng HTML với font chữ mặc
định, company logo...
Ngoài ra, còn các chức năng khác như:
Exchange Server
2010 cung cấp tích hợp chức năng lưu trữ Email (Email Archiving), bảo lưu
(Retention), và khả năng khắc phục sự cố. Exchange 2010 giúp bạn đơn giản hóa
các qui trình bảo quản hệ thống thông tin doanh nghiệp.
Cho phép người
dùng di động sử dụng toàn bộ các tính năng thông qua Exchange ActiveSync, được
cung cấp kèm theo Exchange Server 2010. Người dùng di động có thể truy cập hộp
thư Inbox để xem Email, Voice mail, các thông tin được bảo vệ, và Chat với các
đồng nghiệp trong tổ.
Normal
0
false
false
false
Normal
0
false
false
false
-
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Outlook Web App
Normal
0
false
false
false
Với Exchange 2010
và Outlook Web App người dùng sẽ có thể làm việc hiệu quả dù họ đang dùng hệ điều
hành nào. Người dùng có thể truy cập Email, Voice Mail, Chat, gửi tin nhắn SMS,
v.v…, dù họ đang ở bất kỳ đâu.
(Còn tiếp...)
Tài liệu tham khảo:
http://www.microsoft.com/exchange
Phuong Tran Kim
Để đáp ứng được những tính năng đổi mới trong phần 1, kiến trúc của Microsoft Exchange 2010 thay đổi trong cách lưu trữ cũng như quản lí của mình. Điều này khiến cho người quản trị viên dễ dàng quản lí, theo dõi hoạt động cũng như khác phục sự cố trên hệ thống Mail Exchange.
Một số phần được loại bỏ trong Microsoft Exchange 2010 so với các phiên bản trước:
Normal
0
false
false
false
Normal
0
false
false
false
- Hệ thống Clustering của Exchange
Server bao gồm: LCR (Local Continuous Replication), CCR (Cluster
Continuous Replication) và SCR (Standby Continuous Replication) đã không
còn tồn tại trong Exchange Server 2010,
- Windows Server Fail-over Clustering cũng
được lọai bỏ khỏi Exchange Server 2010 bởi vì một số nhà quản trị vẫn cảm
thấy fail-over clustering quá phức tạp và khó quản lí.
- Storage Groups (các đơn vị lưu trữ
các MailBox Database cũng không còn tồn tại trong Exchange Server 2010. Thế
nhưng, log fie hay checkpoint file thì vẫn còn được sử dụng nhưng ta chỉ gọi
đó là database
- Tính
năng Single Instance Storage (SIS) cũng được lọai bỏ. Điều đó có nghĩa là khi bạn
gửi 1MB tin nhắn cho 100 người thì tương đương với 100MB.
Normal
0
false
false
false
Thêm vào đó là:
-
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Cải tiến phương thức quản lý
Exchange Server 2010 đưa ra mô hình Role-Based
Access Control (RBAC), tạm gọi là quyền hạn điều
khiển theo vai trò, là sự thay đổi đối lập với mô hình
permission-based Access Control List (Danh sách điều khiển dựa trên quyền
hạn) trong những mô hình trước đây. Đây được xem là một trong những
cải tiến lớn của Exchange Server giảm tải cho nhà quản trị, đồng thời
cũng đòi hỏi cân nhắc kỹ lưỡng trong việc phân quyền để tránh sự chồng
chéo lẫn nhau.
- Giao diện OWA mới, dể dàng sử dụng đồng
thời có thể chạy trên nhều trình duyệt, nhiều platform như Mac Book với
Safari. Nhiều nét mới đã được giới thiệu: Favorites, Search Folders,
attaching messages to messages, có thể tích hợp với Office Communicator,
Conversation View…
- Tính sẵn sàng cao: Sự kết hợp của CCR và SCR đã tạo nên 1
tính năng duy nhất được gọi là database availability. Client Access Server
(CAS) sẽ chịu trách nhiệm cho tất cả các hình thức kết nối thư bao gồm cả
việc kết nối MAPI (Outlook) client, cải tiến việc mở rộng hệ thống hạ tầng mail
một cách dễ dàng. Để hiểu rõ hơn về High Availability trong Microsoft Exchange 2010, mình sẽ có bài viết sâu hơn về tính năng này (ở đây mình chỉ giới thiệu sơ lược). Vì vậy,
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
khôi
phục mailbox server dễ dàng sử dụng Database Available Group (DAG),
chức năng mở rộng hoàn toàn mới từ chức năng Cluster Continuous
Replication (CCR) đã có trong Exchange Server 2007. Nó
cho phép người dùng chạy một mailbox server thứ hai nhằm khôi phục
nhanh khi cần thiết. DAG hoàn toàn không có trong Exchange Server
2003, thay thế được các mô hình clustering cổ điển hay lưu trữ thông tin dưới
dạng Storage Area Network (SAN).
Mô hình DAG có thể tạo đến 16
bản sao chép cho mỗi cơ sở dữ liệu Mailbox. Các bản sao
chép dự phòng ( replica ) có thể được cấu hình để chịu lỗi một cách
tự động.


Normal
0
false
false
false
Mô hình kiến
trúc HA (tính sẵn sàng cao) của Exchange Server 2007 ( trên )
so với mô hình HA của Exchange Server 2010 ( dưới )
Khôi phục đơn
Trong những phiên bản trước của Exchange
Server, người dùng có thể xóa đi những mục mà họ không thích. Điều này khiến
các nhà quản trị tốn nhiều thời gian để khôi phục khi có yêu cầu. Exchange
Server 2010 cung cấp cấp thời gian lưu trữ email lâu hơn để hỗ trợ người
dùng khôi phục khi cần. Chức năng Litigation Hold có
trên một số hạng mục email nhất định ngăn người dùng xóa trong mọi
trường hợp.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Windows Mobile
Người dùng sử dụng
smartphone Windows Mobile sẽ có giao diện Outlook trên Mobile hoàn
toàn mới, đặc biệt là chức năng Conversation View cho phép xem hàng
loạt email cùng một chủ đề trong một thực thể duy nhất. Hơn nữa, các
tin nhắn văn bản (text) trên Windows Mobile sẽ được đồng bộ tức thì với mailbox
của Server.
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
Cho phép phân quyền tự quản trị bằng công
cụ ECP
Công cụ mới có giao diện
web mang tên là Exchange Control Pannel (ECP) sẽ cho phép nhà quản
trị làm mọi việc trong môi trường Exchange 2010 mà không cần phải cài đặt bất
cứ một ứng dụng nào trên máy Client (khách).
Những
cải tiến về tốc độ
Trong Exchange 2007, sự kết hợp giữa kiến
trúc 64-bit và tăng kích cỡ trang tới 8 KB dẫn tới hiệu quả là giảm được 70% việc
đọc ghi cho Exchange trên đĩa cứng. Với Exchange 2010, kích cỡ trang được tăng
lên đến 32 KB giúp tốc độ IOPS được giảm thêm 50% nữa. Nhờ
đó các doanh nghiệp có thể xem xét lại việc dùng những loại đĩa cứng
rẻ tiền hơn mà không hề mất đi bất cứ khả năng nào của hệ thống.

Normal
0
false
false
false
So sánh về giải pháp ổ
cứng lưu trữ của 3 phiên bản Exchange 2003, 2007 và 2010
Normal
0
false
false
false
Normal
0
false
false
false
Một số hạn chế
- Exchange 2010 được dựng trên nền Windows PowerShell, là
một công nghệ xử lý tác vụ bằng dòng lệnh. Mặc dù giúp nhà quản
trị dễ dàng xử lý hơn so với Exchange 2003 nhưng ngược lại nó đòi hỏi phải
đào tạo lại những cán bộ IT, đặc biệt là những người trước giờ vẫn quen sử
dụng chuột và giao diện đồ họa.
- Exchange 2010 chỉ chạy trên hệ điều
hành Windows 2008 SP2 hoặc các phiên bản cao hơn, điều này cũng có
nghĩa nhà quản trị cần nắm bắt thêm về chức năng của hệ điều
hành mới.
- Exchange 2003 có thể chạy trên Microsoft Virtual Server
2005 nhưng Exchange 2010 sẽ chỉ chạy trên những Microsoft virtual servers
mới như Hyper-V hoặc trên VMware servers.
Nhìn chung, Exchange
Server 2010 đã có thể xuất hiện ở khắp mọi nơi thông qua Outlook trên
PC, smartphone hoặc từ trình duyệt web, cung cấp những tính
năng cho người dùng cuối như xem trước nội dung dạng voicemail, SMS
Text Messaging, MailTips, Conversation View, Call Asnwering Rule, trợ
giúp khách hàng bảo vệ thông tin, cho phép họ mã hóa email dựa vào
thông tin người gửi, người nhận hoặc ngay cả dựa trên nội dung của thư hay
tài liệu đính kèm.
Khi kết hợp sử dụng Forefront
Protection dành cho Exchange mới nhất, bộ phận IT có thể bổ
sung 8 lớp bảo mật, ngăn chặn virus, malware, spyware hiệu quả hơn cho
Exchange Server 2010.
(Hết phần 2)
Tài nguyên tham khảo
Tham khảo thông tin chính thức và download bản dùng thử tại trang
www.microsoft.com/exchange/2010
Ngoài ra:
http://home.vnn.vn/exchange_server_2010__nhieu_cai_tien_noi_bat-201785344-615554485-0
Phuong Tran Kim
Bài viết gồm 3 phần:
Phần 1: Tồng quan Exchange Server và các
đặc tính mới trong Mail Exchange
Phần 2: Sự thay đổi trong cấu trúc
Microsoft Exchange 2010 so với các phiên bản trước
Phần 3: Những công nghệ trong Microsoft Exchange 2010 và hướng dẫn cách cài
đặt xây dựng mail Exchange 2010
Exchange Server là phần mềm máy chủ do
Microsoft phát triển chuyên phục vụ các giải pháp email và trao đổi thông tin
trong doanh nghiệp. Tính năng chính của Exchange Server là quản lý thư điện tử,
lịch làm việc, danh bạ người dùng và tác vụ, hỗ trợ cho người dùng thông qua
môi trường máy tính để bàn, điện thoại di động và trình duyệt web.
Ra mắt phiên bản đầu tiên từ năm 1995 cho đến nay Exchange Server đã trải qua
các phiên bản 1.0, 4.0, 5.0, 2000, 2003, 2007 và phiên bản 2010 được chính thức
công bố ra mắt vào ngày 09/11/2009 vừa qua.

Đây là phiên bản
thứ bảy trong một lọat các phiên bản Mail Exchange mà Microsodt tung ra cho đến
nay. So với những phiên bản trước đây thì Microsoft Exchange 2010 đã có những
bước tiến mới, phần nào khắc phục được những nhược điểm của các phiên bản trước.
Cấu trúc lưu trữ của Exchange 2010 đã được đơn giản hóa hơn giúp người quản trị
viên dễ dàng quản lí hệ thống mail trong doanh nghiệp. Ngòai ra, các trải nghiệm
người dùng trong Outlook Web App cũng được cải thiện nhiều hơn.
Để hiểu rõ hơn,
chúng ta cùng tìm hiểu những tính năng trong Microsoft Exchange 2010:
Linh động
và đáng tin cậy
Exchange Server 2010 được triển
khai từ việc cài đặt trên máy chủ doanh nghiệp đến việc hosting
trên hệ thống của Microsoft Datacenter gọi là
Exchange Online hay phối hợp 2 giải pháp trên cùng lúc.
Microsoft cam kết rằng phương thức "Software plus
services" sẽ giúp doanh nghiệp kiểm soát được tiến độ
triển khai dự án, tận dụng được sức mạnh của cả 2
hình thức cài đặt trên máy chủ của doanh nghiệp
và dạng dịch vụ hosting trong khi vẫn không thay đổi giao
diện hoặc kinh nghiệm của người dùng cuối.
Đáng lưu ý nhất
là việc lưu trữ trên Exchange nay đã có thêm tùy chọn mới JBOD bao gồm ổ cứng
SATA và đĩa RAID, giúp lưu trữ các mailbox database lớn với chi phí thấp nhất.

Normal
0
false
false
false
Ngòai ra, được xây dựng trên nền
tảng công nghệ Continuous Replication của Exchange 2007, một công
nghệ cho phép đơn giản hóa khả năng duy trì
tính liên tục và khắc phục khi xảy ra thảm họa cùng
với việc cải tiến của hàng loạt những công cụ bảo trì
cho hệ thống sẽ giúp bạn tiến lên một bước mới đáng
tin cậy hơn và giảm bớt sự phức tạp để duy trì một hệ
thống máy chủ mail hoạt động liên tục. Những tính
năng mới này bao gồm:
- Không cần phải triển khai
hệ thống clustering phức tạp và tốn chi phí cũng
như các sản phẩm nhân bản dữ liệu của các
hãng thứ ba để đảm bảo công việc sao lưu dự phòng
cho Exchange một cách trọn vẹn.
- Tự động nhân bản và khắc phục
lỗi cho CSDL của mailbox với chỉ 2 Server hoặc thông qua
các trung tâm datacenter nằm ở các vị trí địa
lý khác nhau.
- Duy trì tính sẵn sàng
và khôi phục nhanh với đến 16 bản sao của mỗi mailbox
database trong Exchange Server.
- Hạn chế việc ngưng hoạt động của
người dùng trong khi di chuyển các mailbox giữa các
mail server khác nhau, điều này cho phép bạn thực
hiện công việc bảo trì và chuyển đổi thông tin
theo kế hoạch rất thoải mái, ngay cả trong giờ
làm việc.
- Bảo vệ chống mất e-mail
khi Transport Server đang trong tình trạng nâng cấp hoặc
bị lỗi hoặc thông qua chức năng sao lưu dự
phòng một bản "shadow copy" được tích hợp sẵn cho
phép chuyển hướng gửi mail một cách thông minh tới
những Server còn sẵn sàng.
Việc giảm bớt gánh nặng
cho bạn cũng như bộ phận hỗ trợ kỹ thuật cũng là
một cách để giảm chi phí. Với sản phẩm mới, người dùng
cuối sẽ có thêm các cơ chế tự phục vụ khi gặp
các vấn đề thông thường và không phải gọi đến bộ phận
hỗ trợ kỹ thuật. Với chức năng này, bạn có thể:
- Cho phép người dùng cập nhật thông
tin về Contact của họ và theo dõi việc gửi nhận thông
tin mà không cần sự hỗ trợ của nhân viên IT
- Cung cấp giao diện web dễ sử
dụng để hỗ trợ những sự cố thường gặp
- Thực hiện mô hình quản
lý truy cập dựa theo chức năng của Exchange để
tăng thêm quyền hạn cho những người dùng
chuyên nghiệp để thực hiện một số tác vụ nhất định -
ví dụ hỗ trợ bộ phận pháp lý trong việc
tìm kiếm thông tin trong nhiều hộp thư khác nhau
- mà không cần phải đòi quyền của người quản trị hệ
thống
Truy cập
thông tin ở bất cứ đâu
Mức độ thành công trong công việc tùy thuộc
vào năng suất và hiệu quả làm việc của user thông qua các giải pháp công nghệ
mà bạn triển khai. Trong phiên bản mới nhất này, Exchange
đã cho phép người dùng sử dụng mọi phương thức
thông tin từ một nơi duy nhất và cho phép họ rất
dễ dàng trao đổi thông tin với nhau và với cả các
đối tác. Luồng thông tin ra vào một hộp thư rất dễ
dàng trở nên quá tải và ảnh hưởng đến hiệu quả công
việc cũng như lợi ích của công ty. Exchange 2010 bổ sung
thêm nhiều tính năng mới có thể giúp người dùng tổ chức,
sắp xếp thứ tự ưu tiên các hình thức thông
tin trong chính hộp thư của họ. Cụ thể như sau:
- Hỗ trợ người dùng sử dụng e-mail
xuyên suốt từ desktop, web, đến thiết bị di động,
bao gồm việc hỗ trợ OWA chạy trên các trình duyệt khác
nhau như Apple Safari và Mozilla Firefox
- Thống nhất việc truy cập tới e-mail,
voice mail, instant messaging, và mail dạng văn bản thông
thường cho phép người dùng chọn cách tốt nhất với
những người khác và không ràng buộc việc họ đang ở bất
cứ đâu.
- Bổ sung thêm các trợ
giúp cho các thiết bị di động, đặc biệt là
Windows Mobile thông qua Exchange ActiveSync
- Chia sẽ tình trạng free/busy
không chỉ với các nhân viên nội bộ mà cả với các
đối bên ngoài nhằm hỗ trợ việc thiết lập các buổi họp
nhanh chóng và hiệu quả, bạn cũng có thể chọn lựa mức
độ chia sẻ thông tin.
Exchange 2010 bổ sung thêm nhiều tính
năng mới có thể giúp người dùng tổ chức, sắp xếp thứ
tự ưu tiên các hình thức giao tiếp trong chính hộp thư
của họ. Cụ thể là:
- Người dùng có thể sắp xếp lại
thông tin e-mail theo trình tự của nội dung trao
đổi một cách tự nhiên.
- MailTips sẽ thông báo cho
người dùng , trước khi họ nhận nút Send để gửi mail
đi về thông tin chi tiết của mail có thể
không thể gửi đi được hoặc có thể gửi nhầm
(ví dụ như bạn có thể gửi những thông tin mật của
công ty ra cho những người nhận bên ngoài, làm giảm bớt
sự lộn xộn của hôp thư, những bước phải làm
thêm và gọi cho bộ phận hỗ trợ kỹ thuật.
Với Exchange 2010, bạn có thể thay
thế hệ thống voice mail truyền thống với một giải
pháp truyền thông tích hợp ngay bên trong phần lõi của hạ
tầng thông tin doanh nghiệp. Hệ thống mới này sẽ
cho phép người dùng nhận các thư dạng voice mail
ngay trong hộp inbox. Người dùng có thể xứ lý
voicemail y như họ xử lý những mail thông thường với các
công cụ rất quen thuộc như Office Outlook và
Outlook Web Access. Bạn sẽ tiết kiệm được
chi phí với hệ thống voice mail hợp nhất và
cung cấp cho người dùng những tính năng như:
- Chuyển đổi voice
mail thành dạng văn bản, cho phép người dùng sắp
xếp thứ tự ưu tiên nhanh chóng, không cần phải
nghe tất cả các tập tin âm thanh.
- Tăng thêm sức mạnh cho việc cá
nhân hóa việc tự động tham gia các voice mail
- Công cụ trả lời cuộc gọi và
tạo các quy luật chuyển cuộc gọi cho cá nhân hoặc cho
một nhóm dựa trên mã của người gọi hoặc thông
tin cá nhân, điều này đảm bảo rằng bạn không bỏ lỡ
cuộc gọi nào.
- Người dùng có thể truy cập vào
inbox thông qua điện thoại - bao gồm cả e-mail, lịch làm
việc, các danh bạ người dùng - với sự hỗ trợ của
gần 30 ngôn ngữ thông qua Outlook Voice Access.
Khả năng bảo
mật và tuân thủ quy định công ty cao
Exchange 2010 đã đưa ra
các tính năng tích hợp mới cho việc lưu trữ và bảo
tồn e-mail bao gồm việc tìm kiếm thông tin trên nhiều mailbox
đồng thời và lưu trữ thông tin cho việc giám
sát, điều tra tức thời (immediate legal hold). Khi bạn
tích hợp chức năng này với kiến trúc lưu trữ
linh động của Exchange, bạn có thể cải tiến được việc kiểm
soát các thông tin của doanh nghiệp, trong khi đó bạn vẫn
cung cấp cho người dùng tận dụng những kiến thức có
sẵn và không ảnh hưởng đến việc họ quản lý hộp thư
làm việc hàng ngày. Cụ thể những tính năng mới
này như sau:
- Di chuyển thông tin từ
Outlook Data Files (PSTs) từ PC ngược trở lại Exchange
phục vụ cho mục đích quản lý và điều tra những vấn
đề liên quan đến pháp lý.
- Dễ dàng phân loại thư điện tử
với những chính sách lưu trữ có thể áp dụng
cho từng e-mail riêng lẻ hoặc cho những thư mục
khác nhau.
- Cho phép tìm kiếm thông tin xuyên
suốt các hộp thư với giao diện web thân thiện hoặc thông
qua việc kiểm soát truy cập theo chức năng cho
phép bộ phận nhân sự hoặc hành chánh thực hiện
các công việc tìm kiếm thông tin theo mục đích.
Exchange 2010 cũng mở rộng khả năng
Bảo vệ và kiểm soát, đơn giản bằng cách mã hóa, hạn
chế và khóa những e-mail chứa những thông tin nhạy cảm hoặc
không phù hợp dựa trên thông tin cụ thể về người gửi,
người nhận và các thuộc tính về nội dung. Những
tính năng chính cụ thể như sau:
- Kết hợp Exchange 2010 và dịch vụ
Active Directory Rights Management Services (ADRMS)
cho phép bạn và người dùng có thể ứng dụng chức năng
Information Rights Management (IRM) tự động bảo vệ thông
tin, ngăn chặn quyền truy cập và sử dụng những
thông tin bên trong 1 e-mail - cho dù nó được gửi
đi bất kỳ nơi đâu.
- Cho phép đối tác và
khách hàng có quyền đọc và trả lời những thư được bảo
vệ bởi IRM - ngay cả khi họ không có cài đặt
hệ thống Active Directory Rights Management
Services (ADRMS) trên máy chủ.
- Cho phép những người quản
lý xem lại các thư điện tử và có thể duyệt hoặc
ngưng việc di chuyển mail.
Normal
0
false
false
false
Normal
0
false
false
false
(Hết Phần 1)
(Nguồn Tham Khảo: http://www.microsoft.com/exchange/2010/vi/vn/default.aspx)